Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xương bánh chè là xương vừng lớn nhất trong cơ thể con người, giữ vai trò cơ học trọng yếu trong hệ thống duỗi của khớp gối bằng cách gia tăng lực của gân cơ tứ đầu đùi và duy trì sự cân bằng, ổn định của khớp khi vận động. Gãy xương bánh chè là tổn thương nội khớp chiếm khoảng 1% tổng số các ca gãy xương và chiếm khoảng 3% gãy xương chi dưới. Chấn thương này thường xuất hiện ở độ tuổi lao động từ 20 đến 50 tuổi với tỷ lệ nam giới cao gấp đôi nữ giới; tỷ lệ gãy hở chiếm từ 6% đến 9%.

Trước đây, điều trị gãy xương bánh chè chủ yếu áp dụng phương pháp bảo tồn bằng nẹp hoặc bó bột thẳng gối. Tuy nhiên, do chịu lực kéo rất lớn từ gân cơ tứ đầu đùi và gân bánh chè, các mảnh vỡ rất dễ di lệch, dẫn đến nguy cơ cao gây thoái hóa khớp bánh chè - đùi, dính khớp hoặc mất chức năng duỗi gối nếu diện khớp không được phục hồi giải phẫu hoàn chỉnh. Ngày nay, chỉ định phẫu thuật kết hợp xương được áp dụng rộng rãi đối với các trường hợp gãy di lệch nhằm phục hồi mặt khớp nhẵn phẳng, cố định vững chắc và cho phép bệnh nhân tập vận động phục hồi chức năng sớm. Nhằm đánh giá thực trạng lâm sàng cũng như hiệu quả của các can thiệp ngoại khoa tại địa bàn Đồng bằng sông Cửu Long, đề tài "Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật kết hợp xương điều trị gãy xương bánh chè tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ" đã được thực hiện với 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng gãy xương bánh chè tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương điều trị gãy xương bánh chè tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên bị gãy xương bánh chè được điều trị phẫu thuật kết hợp xương bằng kỹ thuật néo ép số 8, buộc vòng chỉ thép đơn thuần hoặc kỹ thuật phối hợp.
  • Không gian nghiên cứu: Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình – Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07/2021 đến tháng 07/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và thang điểm đánh giá

Nghiên cứu dựa trên nền tảng giải phẫu học khớp gối và hệ thống duỗi cơ năng của xương bánh chè, cùng hệ thống mạch máu nuôi dưỡng bắt nguồn từ các nhánh động mạch quanh gối. Phân loại gãy xương được đối chiếu theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Chấn thương Quốc tế (OTA) và tiêu chuẩn phân loại mức độ di lệch (khoảng giãn cách mảnh gãy > 3 mm hoặc chênh lệch mặt khớp > 2 mm).

Kỹ thuật can thiệp ngoại khoa áp dụng nguyên lý chuyển lực căng thành lực nén ép của Pauwels và các cải tiến kết hợp xương của Hiệp hội Kết hợp xương (AO), kết hợp đinh Kirschner và chỉ thép. Đánh giá kết quả chức năng khớp gối sau mổ sử dụng thang điểm Lysholm - Gilquist gồm 8 tiêu chí chức năng với tổng điểm 100:

Tiêu chí đánh giá Điểm tối đa
Đau khớp gối 25 điểm
Lỏng khớp 25 điểm
Kẹt khớp 15 điểm
Sưng nề gối 10 điểm
Lên xuống cầu thang 10 điểm
Đi khập khiễng 5 điểm
Sử dụng dụng cụ trợ giúp 5 điểm
Khả năng ngồi xổm 5 điểm

Xếp loại kết quả: Rất tốt (95 – 100 điểm), Tốt (84 – 94 điểm), Trung bình (65 – 83 điểm), Kém (< 65 điểm).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% ($\alpha = 0,05$), sai số $d = 0,07$, tỷ lệ kỳ vọng $p = 0,95$, xác định cỡ mẫu tối thiểu là 38 bệnh nhân. Nghiên cứu thực tế thu thập 39 bệnh nhân thỏa mãn đầy đủ tiêu chuẩn chọn mẫu bằng phương pháp chọn mẫu có chủ đích.
  • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Thu thập thông tin qua bệnh án mẫu thống nhất gồm 7 bước chặt chẽ, quản lý và xử lý dữ liệu thống kê y học bằng phần mềm SPSS 20.0, sử dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) để xác định mối liên quan giữa các biến số với mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương tổng quan hệ thống hóa toàn diện cơ sở giải phẫu học, cơ sinh học và lịch sử can thiệp ngoại khoa đối với gãy xương bánh chè:

  • Giải phẫu và chức năng: Khớp gối là khớp phức hợp lớn nhất cơ thể, gồm khớp lồi cầu đùi - chày và khớp phẳng đùi - bánh chè. Xương bánh chè dày 4–5 mm ở lớp sụn trung tâm, tiếp nhận máu từ mạng mạch quanh gối tập trung ở 1/3 giữa và dưới; do đó gãy ngang cực trên có nguy cơ hoại tử vô mạch từ 3,5% đến 24%. Xương bánh chè hoạt động như một đòn bẩy làm tăng cánh tay đòn của gân tứ đầu, chịu lực ép lên lồi cầu đùi gấp 3,3 lần trọng lượng cơ thể khi lên xuống dốc và gấp 7 lần khi đi đường bằng.
  • Cơ chế chấn thương: Cơ chế trực tiếp (ngã đập gối xuống vật cứng, gãy nhiều mảnh hoặc gãy sao, ít rách cân trước) và cơ chế gián tiếp (co gấp cẳng chân đột ngột khi cơ tứ đầu co mạnh, gây gãy ngang và toác rộng hai cánh bên bánh chè).
  • Lịch sử và các phương pháp can thiệp: Từ kỹ thuật buộc vòng quanh bánh chè của Berger (1892), néo ép số 8 của Weber và Muller nhóm AO (1963), vít xốp DePalma (1954), đến kỹ thuật kết hợp néo ép số 8 luồn qua 2 đinh Kirschner song song.
  • Tổng quan y văn: Đối chiếu các kết quả nghiên cứu trong nước của Nguyễn Hữu Ngọc (2004 tại BV 103: 76,87% rất tốt), Trần Trung Dũng (2014 tại BV ĐH Y Hà Nội: 90,6% tốt và rất tốt), Nguyễn Triết Hiền (2016 tại BV ĐKTT An Giang: 88,88% tốt và rất tốt), Tô Đức Khôi (2018 tại BV Việt Đức); cùng các tác giả quốc tế như Ong T. K (2008), Hsu Kai-Lan (2017), và các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng néo ép số 8.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 xác lập quy trình nghiên cứu, chỉ định phẫu thuật và quy trình can thiệp ngoại khoa chuẩn hóa:

  • Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân $\ge 18$ tuổi gãy xương bánh chè có chỉ định mổ (di lệch mảnh vỡ $> 3$ mm hoặc chênh lệch diện khớp $> 2$ mm), điều trị bằng néo ép số 8, buộc 2 vòng chỉ thép hoặc phối hợp trong giai đoạn 07/2021 – 07/2022, có hồ sơ và phim X-quang đầy đủ.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Gãy bệnh lý, gãy tái phát, khớp giả, di chứng hạn chế vận động gối trước đó, hoặc bệnh nhân không hợp tác.
  • Quy trình kỹ thuật mổ 4 thì:
    • Thì 1 (Rạch da): Rạch dọc chính giữa khớp gối dài 8 – 13 cm từ cực dưới đến cực trên xương bánh chè qua tổ chức dưới da đến mạc trước bánh chè.
    • Thì 2 (Bộc lộ ổ gãy): Mở qua bao cân xơ bị rách, lấy sạch máu tụ, bơm rửa khớp bằng NaCl 9‰, kiểm soát diện khớp.
    • Thì 3 (Nắn chỉnh và kết hợp xương): Nắn diện khớp giải phẫu; xuyên 2 đinh Kirschner song song cách nhau 3 cm ở tư thế gối gấp 45°; luồn chỉ thép số 8 néo ép mặt trước; hoặc luồn chỉ thép sát bờ xương bánh chè buộc vòng quanh chu vi; kiểm tra biên độ vận động và độ khít mặt khớp dưới màn hình tăng sáng (C-arm).
    • Thì 4 (Đóng vết mổ): Khâu phục hồi hai cánh bên bánh chè, đóng kín bao khớp, đặt dẫn lưu ngoài khớp và khâu da từng lớp.
  • Hậu phẫu: Bất động bổ sung bằng nẹp nếu kết hợp xương chưa vững, rút dẫn lưu sau 24 – 48 giờ, kháng sinh 5 – 7 ngày, hướng dẫn tập vận động và hẹn tái khám đánh giá thang điểm Lysholm.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu trên 39 bệnh nhân đã ghi nhận các chỉ số dịch tễ học, lâm sàng và phẫu thuật cụ thể:

Đặc điểm khảo sát Phân loại / Chỉ số Số lượng (n=39) Tỷ lệ (%)
Độ tuổi 18 – 40 tuổi 12 30,77%
41 – 60 tuổi 14 35,90%
> 60 tuổi 13 33,33%
Tuổi trung bình: 51,69 (19 – 82 tuổi)
Giới tính Nam 21 53,85%
Nữ 18 46,15%
Nghề nghiệp Lao động chân tay 27 69,23%
Nhóm khác (nghỉ hưu, già yếu, nội trợ) 12 30,77%
Lao động trí óc 0 0,00%
Bên tổn thương Gối trái 27 69,23%
Gối phải 12 30,77%
Nguyên nhân chấn thương Tai nạn sinh hoạt (TNSH) 20 51,28%
Tai nạn giao thông (TNGT) 13 33,33%
Tai nạn lao động (TNLĐ) 6 15,38%
Cơ chế chấn thương Trực tiếp 39 100,00%
Gián tiếp 0 0,00%
Hình thái gãy Gãy kín 33 84,62%
Gãy hở 6 15,38%
Thương tổn giải phẫu Gãy ngang 18 46,15%
Gãy nhiều mảnh di lệch 13 33,33%
Gãy cực dưới 7 17,95%
Gãy dọc 1 2,56%
Thời gian từ tai nạn đến mổ < 12 giờ 6 15,38%
12 – 24 giờ 4 10,26%
> 24 giờ 29 74,36%
  • Triệu chứng lâm sàng ghi nhận: Đau gối và hạn chế vận động khớp gối xuất hiện ở 100% bệnh nhân (39/39); sưng nề gối chiếm 87,18% (34/39); sờ thấy mất liên tục xương chiếm 66,67% (26/39); vết thương phần mềm chiếm 53,85% (21/39); bầm tím quanh gối chiếm 51,28% (20/39); dấu hiệu bập bềnh bánh chè phát hiện ở 38,46% (15/39).
  • Mối liên quan giữa nguyên nhân và giới tính: TNGT tập trung chủ yếu ở nam giới (11/21 ca nam = 28,21% tổng mẫu), trong khi ở nữ giới nguyên nhân chủ yếu là TNSH (15/18 ca nữ = 38,46% tổng mẫu), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p = 0,001$).
  • Mối liên quan giữa thương tổn giải phẫu và kỹ thuật mổ ($p = 0,003$):
    • Kỹ thuật néo ép số 8 (17 ca = 43,59%): Áp dụng nhiều nhất cho gãy ngang (10 ca), gãy cực dưới (6 ca), gãy dọc (1 ca).
    • Kỹ thuật phối hợp buộc vòng + néo ép số 8 có xuyên đinh Kirschner (15 ca = 38,46%): Áp dụng cho gãy nhiều mảnh di lệch (8 ca) và gãy ngang (7 ca).
    • Kỹ thuật buộc 2 vòng chỉ thép đơn thuần (7 ca = 17,95%): Thực hiện chủ yếu ở gãy nhiều mảnh di lệch (5 ca), gãy ngang (1 ca) và gãy cực dưới (1 ca).
  • Phục hồi chức năng và thời gian nằm viện:
    • Tập luyện sau mổ: Tự tập tại nhà chiếm 64,10% (25 ca), tập vật lý trị liệu chuyên khoa chiếm 35,89% (14 ca). Sự khác biệt về phương pháp tập luyện giữa các nhóm kỹ thuật mổ không có ý nghĩa thống kê ($p = 0,674$).
    • Thời gian nằm viện: Trung bình 6,97 ngày (ngắn nhất 3 ngày, dài nhất 12 ngày). Các trường hợp nằm viện trên 7 ngày do cần tầm soát các bệnh lý nội khoa kết hợp trước mổ.
  • Đánh giá kết quả cơ năng khớp gối theo thang điểm Lysholm - Gilquist:
    • Rất tốt: 17 bệnh nhân (43,59%).
    • Tốt: 17 bệnh nhân (43,59%).
    • Tỷ lệ phục hồi chức năng đạt loại Tốt và Rất tốt chung là 87,18%.

Kết quả và đóng góp

Kết quả điều trị chính

  • Phẫu thuật kết hợp xương mang lại tỷ lệ phục hồi chức năng khớp gối cao với 87,18% bệnh nhân đạt mức Tốt và Rất tốt theo thang điểm Lysholm - Gilquist (trong đó Rất tốt đạt 43,59% và Tốt đạt 43,59%).
  • Phục hồi giải phẫu diện khớp vững chắc, kiểm soát tốt dưới màn hình tăng sáng (C-arm) trong mổ giúp bệnh nhân sớm phục hồi biên độ gấp duỗi khớp gối.

Khuyến nghị và giải pháp kỹ thuật của tác giả

  • Lựa chọn phương pháp mổ theo hình thái thương tổn:
    • Đối với gãy ngang đơn thuần: Kỹ thuật néo ép số 8 có xuyên 2 đinh Kirschner song song là chỉ định ưu tiên giúp tạo lực nén ép mặt gãy khi gấp gối theo nguyên lý Pauwels, tạo điều kiện vận động sớm.
    • Đối với gãy nhiều mảnh phức tạp có di lệch: Phải áp dụng kỹ thuật phối hợp buộc vòng chỉ thép gom các mảnh vỡ kết hợp néo ép số 8 có xuyên đinh Kirschner để duy trì độ vững.
  • Chăm sóc và tập phục hồi chức năng: Cần hướng dẫn bệnh nhân tập co cơ tĩnh cơ tứ đầu đùi ngay sau mổ, tập gấp duỗi gối tăng dần biên độ khi giảm đau và kiểm soát tốt phần mềm để tránh teo cơ và xơ dính khớp gối.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ có sự tương đồng và khẳng định tính hiệu quả của phẫu thuật kết hợp xương bánh chè khi đối chiếu với các công trình y học trong nước:

Tác giả và năm nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu Cỡ mẫu (n) Tỷ lệ gãy kín Tỷ lệ Rất tốt & Tốt
Nguyễn Hữu Ngọc (2004) BV Quân y 103 80 100,00% 86,72%
Trần Trung Dũng (2014) BV Đại học Y Hà Nội 32 87,50% 90,60%
Nguyễn Triết Hiền (2016) BV ĐKTT An Giang 45 80,00% 88,88%
Tô Đức Khôi (2018) BV Hữu nghị Việt Đức 80 100,00% 80,00%
Ngô Xuân Oánh (2022 - Đề tài này) BV ĐKTW Cần Thơ 39 84,62% 87,18%

Nghiên cứu cung cấp dữ liệu lâm sàng, phân bố dịch tễ thực tế tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các kỹ thuật kết hợp xương kinh điển khi thực hiện tại bệnh viện tuyến cuối của khu vực.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Nghiên cứu thực hiện đơn trung tâm tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ với cỡ mẫu 39 bệnh nhân, chưa bao quát được toàn bộ các biến thể thương tổn hiếm gặp (như gãy sụn khớp đơn thuần, gãy nhiều mảnh không di lệch).
    • Thời gian theo dõi dọc sau phẫu thuật chủ yếu tập trung đánh giá phục hồi chức năng giai đoạn sớm và trung hạn, chưa đánh giá thoái hóa khớp bánh chè - đùi thứ phát ở thời gian theo dõi dài hạn nhiều năm sau mổ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và kéo dài thời gian theo dõi hậu phẫu nhằm khảo sát biến chứng thoái hóa khớp muộn và tỷ lệ phẫu thuật rút phương tiện kết hợp xương (tháo đinh, chỉ thép do kích ứng mô mềm).
    • So sánh đối đầu giữa phương pháp néo ép truyền thống bằng đinh Kirschner với các cải tiến hiện đại như néo ép qua vít rỗng bắt xốp chịu lực.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi: Tài liệu có giá trị học thuật và thực hành lâm sàng trực tiếp cho sinh viên y đa khoa, học viên sau đại học chuyên ngành Ngoại Chấn thương Chỉnh hình, cũng như các phẫu thuật viên ngoại khoa công tác tại các bệnh viện tuyến tỉnh/thành phố.
  • Các nội dung nổi bật phục vụ thực hành:
    • Quy trình phẫu thuật chuẩn 4 thì bộc lộ và xử lý diện gãy xương bánh chè.
    • Bảng đối chiếu chỉ định lựa chọn phương pháp kết hợp xương (néo ép số 8, buộc vòng chỉ thép, hoặc phối hợp) tương ứng với từng hình thái giải phẫu ổ gãy.
    • Bộ tiêu chí và bảng chấm điểm phục hồi chức năng khớp gối chi tiết theo thang điểm quốc tế Lysholm - Gilquist.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên nhân và cơ chế chấn thương gãy xương bánh chè trong nghiên cứu này có đặc điểm gì nổi bật?

Toàn bộ 100% bệnh nhân trong nghiên cứu (39/39 ca) đều bị gãy xương bánh chè do cơ chế chấn thương trực tiếp (ngã đập gối xuống nền cứng). Nguyên nhân phổ biến nhất là tai nạn sinh hoạt chiếm 51,28% (20 ca), tiếp theo là tai nạn giao thông chiếm 33,33% (13 ca) và tai nạn lao động chiếm 15,38% (6 ca). Tai nạn giao thông chiếm ưu thế ở nam giới (28,21%), trong khi nữ giới chủ yếu gặp tai nạn sinh hoạt (38,46%).

2. Hình thái tổn thương giải phẫu nào chiếm tỷ lệ cao nhất và kỹ thuật mổ nào được lựa chọn tương ứng?

Hình thái thương tổn giải phẫu thường gặp nhất là gãy ngang xương bánh chè, chiếm 46,15% (18/39 ca). Kỹ thuật mổ được chỉ định nhiều nhất cho loại tổn thương này là phẫu thuật néo ép số 8 có xuyên đinh Kirschner (10/18 ca), giúp chuyển lực kéo của cơ tứ đầu đùi thành lực nén ép mặt gãy khi bệnh nhân vận động gấp gối.

3. Phương pháp phẫu thuật nào được chỉ định cho các trường hợp gãy nhiều mảnh di lệch?

Đối với các trường hợp gãy nhiều mảnh di lệch (chiếm 33,33% với 13 ca), phẫu thuật viên chủ yếu áp dụng kỹ thuật phối hợp buộc vòng chỉ thép gom các mảnh vỡ kết hợp néo ép số 8 có xuyên đinh Kirschner (8/13 ca, chiếm 20,51%) hoặc kỹ thuật buộc 2 vòng chỉ thép đơn thuần (5/13 ca, chiếm 12,82%) nhằm đảm bảo độ vững chắc cho diện khớp.

4. Kết quả phục hồi chức năng khớp gối sau phẫu thuật theo thang điểm Lysholm - Gilquist đạt mức độ nào?

Kết quả đánh giá chung ghi nhận 43,59% bệnh nhân đạt loại Rất tốt (95 – 100 điểm) và 43,59% đạt loại Tốt (84 – 94 điểm). Tổng tỷ lệ bệnh nhân phục hồi tốt và rất tốt đạt 87,18%, khẳng định hiệu quả điều trị phục hồi chức năng vận động của các phương pháp kết hợp xương được áp dụng.

5. Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân sau phẫu thuật là bao lâu?

Thời gian nằm viện trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 6,97 ngày, trong đó thời gian nằm viện ngắn nhất là 3 ngày và dài nhất là 12 ngày. Các trường hợp nằm viện kéo dài trên 7 ngày chủ yếu do bệnh nhân cần kiểm soát và đánh giá các bệnh lý nội khoa kết hợp trước mổ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Xuân Oánh đã phân tích chi tiết đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật kết hợp xương bánh chè trên 39 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Nghiên cứu chỉ ra gãy ngang là tổn thương giải phẫu chiếm tỷ lệ cao nhất (46,15%) và kỹ thuật néo ép số 8 kết hợp đinh Kirschner cùng phương pháp phối hợp buộc vòng là các can thiệp chủ đạo. Kết quả sau mổ đạt tỷ lệ phục hồi chức năng khớp gối tốt và rất tốt lên đến 87,18% theo thang điểm Lysholm - Gilquist, chứng minh tính hiệu quả và độ tin cậy của quy trình điều trị ngoại khoa tại cơ sở thực hành.