CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU, MÔ HỌC CỦA TUYẾN NƯỚC BỌT MANG TAI 1. Giải phẫu học [3], [11] Tuyến mang tai là một tuyến nước bọt to nhất, nặng 25- 30 gam. Nằm ở dưới ống tai ngoài, giữa quai hàm và mỏm chũm, mỏm trâm [8].
Khoang mang tai Khu mang tai là một trong hai khu của vùng trước trâm. Có thể coi như hình lăng trụ tam giác có 3 mặt và 2 đầu. Mặt ngoài Gồm có ba lớp: Da, tổ chức tế bào dưới da và lá nông của cân cổ nông, lá này khi tới bờ trước của cơ ức đòn chũm thì chia ra làm hai lá: + Lá nông chạy tới xương hàm và liên tiếp với cân của cơ cắn + Lá sâu quặt vào trong, đi tới tận hầu.1: Giải phẫu tuyến mang tai Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, 1995 [11]. Mặt sau Liên quan với mỏm chũm (trên đó có cơ ức đòn chũm và cơ nhị thân bám) và với mỏm trâm (trên dó có cụm hoa Riolan bám).
Các cơ đó được lá sâu của của cân cổ nông bao phủ và nối liền với nhau, để tạo nên một phần của hoành đi từ cơ ức đòn chũm đến hầu (hoành trâm hàm hầu). Hoành này gồm ba khe: - Khe trong (khe trước trâm móng) ở giữa cơ trâm móng (ở ngoài) và các cơ hay dây chằng khác của cụm Riolan (ở trong). - Khe ở giữa cơ trâm móng và cơ nhị thân (khe sau trâm móng), ở khe này, tuyến liên quan với tĩnh mạch cảnh trong, dây VII cùng lách qua khe này vào trong tuyến nước bọt mang tai. - Khe ngoài ở giữa cơ nhị thân và cơ ức đòn chũm.
Tại đây có dây XI bắt chéo tuyến nước bọt (đây là nơi được chọn làm thủ thuật nối dây VII và XI cho bệnh nhân bị liệt mặt). Mặt trước Liên quan với quai hàm được đệm ở mặt ngoài bởi cơ cắn và mặt trong bởi cơ chân bướm trong (điều này giải thích tại sao ung thư tuyến mang tai giai đoạn muộn lai có khít hàm). Mặt trước có khuyết Juvara (khuyết sau lồi cầu), chui qua đó có động mạch hàm trong và dây thần kinh thái dương. Đầu trên Liên quan với khớp thái dương hàm và ống tai ngoài.
Tại đây liên quan với động mạch thái dương nông ở trước, tĩnh mạch và dây thần kinh thái dương ở sau. Đầu dưới Nằm trên dải ức hàm đi từ cơ ức đòn chũm tới góc hàm tạo vách ngăn giữa. Dải này tạo nên một vách ở giữa tuyến mang tai và tuyến dưới hàm. Tuyến mang tai Tuyến mang tai có hai thùy, giữa hai thùy có các cấu trúc cầu nối sang nhau làm cho hai thùy này tuy áp vào nhau nhưng có một diện bóc tách, dây thần kinh VII nằm giữa hai thùy này như sợi chỉ đánh dấu nằm giữa hai trang sách, gáy quay về phía trước.
Thùy trên nằm lên trên cả thùy dưới và dây VII như nắp của một chiếc hộp. Từ các nang tuyến, nước bọt được tiết ra sẽ đổ vào các ống trong tiểu thùy, ống gian tiểu thùy, ống bài xuất, ống Stenon. Stensen's Duct ( ống Stenon) Ống tuyến mang tai Các ống tuyến mang tai, hay ống Stensen, hình thành từ các ống dẫn phát sinh từ thùy nông, thùy sâu, hoặc cả hai. Ống tuyến tham gia gần bờ trước của tuyến và di chuyển về phía trước trên bề mặt bên của cơ nhai khoảng một chiều rộng ngón tay bên dưới cung gò má.
Các ống dẫn có thể được tìm thấy dọc theo đường tưởng tượng giữa mép miệng và đường gắn của dái tai, dài 4 đến 7 cm. Các ống dẫn chạy trước và sau đó thực hiện một bước ngoặt xuyên qua cơ mút và mô mỡ vùng má. Các ống dẫn mở vào khoang miệng tại nhú tuyến mang tai ở ngang mức răng hàm trên số 2. Tuyến mang tai phụ kiện có thể được tìm thấy ở 21 đến 56% bệnh nhân.
Nó có thể được tìm thấy dọc theo ống tuyến mang tai giữa các nhánh má và gò mà của thần kinh mặt và có thể là một nguồn của khối u tuyến mang tai. Tuyến phụ khác biệt với tuyến mang tai chính nhưng chảy vào ống dẫn Stensen qua một hoặc nhiều nhỏ phụ lưu. Liên quan mạch máu - thần kinh - bạch huyết Từ ngoài vào trong tuyến nước bọt mang tai có liên quan tới dây thần kinh mặt, tĩnh mạch và động mạch cảnh ngoài, dây thần kinh tai - thái dương. Thần kinh ⮚ Dây thần kinh mặt (VII) - Sau khi ra khỏi lỗ trâm chũm (1 tới 2cm) dây VII đi giữa cơ trâm móng và cơ nhị thân, chui vào giữa hai thùy của tuyến mang tai.
- Dây thần kinh VII di trong diện bóc tách của hai thùy tuyến cùng với một động mạch nhỏ kề bên với động mạch trâm chũm (thắt dộng mạch này để cầm máu sẽ giúp cho việc phẫu tích dễ dàng hơn nhiều). Ngay trong diện này, dây thần kinh VII chia làm các nhánh là nhánh thái dương mặt và nhánh cổ mặt. - Nhánh thái dương mặt: nối với dây thái dương và chia nhiều nhánh nhỏ cho các cơ nông vùng cổ mặt. Giữa hai thùy, nhánh thái dương mặt và nhánh cổ mặt lại cho nhiều nhánh nối với nhau tạo nên thần kinh mang tai.
Những nhánh cuối của thái dương mặt là: - Thái dương: Cho cơ tai trước và mặt trước vành tai ngoài - Trán và mi mắt: Cho cơ trán, lông mày, vòng mi - Dưới ổ mắt: Cho cơ gò má to, nhỏ, nâng cánh mũi, môi trên, nanh, chéo mũi, nở lỗ mũi. - Trên miệng: Cho cơ mút và nửa trên cơ vòng môi. - Nhánh cổ mặt: Nối liền với cành tai của đám rối cổ rồi chia thành nhiều nhánh nhỏ thường ở sau và trên góc hàm, những nhánh tận là: + Dưới miệng cho cơ cười và nửa dưới cơ vòng môi + Cằm cho tam giác môi, vuông cằm, chỏm cằm + Cổ cho da nông cổ, nhánh này nối liền với cành ngang của đám rối cổ nông. ⮚ Dây thần kinh thái dương: Là nhánh của dây hàm dưới, chui qua khuuyết sau lồi cầu Juvara cùng với động mạch hàm trong.
Các sợi tiết dịch của. 7 tuyến là sợi đá sâu bé của dây IX. Khi bị dò nước bọt do đứt ống Stenon, có thể làm lỗ dò ngừng chảy dịch bằng cách làm đứt dây thái dương vì các sợi tiết dịch của dây IX mượn đường đi của dây tai thái dương. Liên quan mạch máu ⮚ Động mạch: Động mạch cảnh ngoài qua khe trước trâm móng đi vào phần sau của tuyến nó xẻ một đường trong thùy sâu của tuyến tới trên góc hàm 4 cm thì chia thành hai nhánh tận là thái dương nông và hàm trong.
Ngay sau khi chui vào tuyến, động mạch còn tách ra một nhánh bên là động mạch tai sau nằm 7 trong ống tai, cho nhánh là động mạch trâm chũm thường đi kèm với thần kinh mặt. ⮚ Tĩnh mạch Tĩnh mạch cảnh ngoài được tạo thành do hai tĩnh mạch chính là tĩnh mạch thái dương nông và tĩnh mạch hàm trong thóat ra từ khuyết Juvara ở trên động mạch và dưới thần kinh. Tĩnh mạch cảnh ngoài thóat dần ra ngoài tuyến ở phía dứơi để chạy ngay dưới cân cổ nông, nó tiếp nối với thân giáp lưỡi mặt bởi nhánh nối trong tuyến mang tai. Một số điểm lưu ý về giải phẫu tuyến ngoại khoa Tuyến nằm tương đối trải rộng và sâu từ gò má tới góc hàm, từ trước trên cơ ức đòn chũm tới tận cơ cắn, từ cân cổ vào tới tận hầu.
Vì vậy, khối u của tuyến thường lan rộng và sâu. Có những liên quan giải phẫu rất quan trọng: - Động mạch cảnh ngoài: Có thể bị tổ chức ung thư phá huỷ hoặc chảy máu khi phẫu thuật. - Thần kinh VII: Thường gây liệt mặt trong các khối u ác tính, các khối u hỗn hợp chưa có tổn thương thì phẫu thuật bảo tồn dây VII được đặt ra. 8 - Liên quan với xương hàm dưới và khớp thái dương hàm: khít hàm khi khối u thâm nhiễm vào các cơ cắn hoặc lan và khớp thái dương hàm.
- Liên quan với động mạch cảnh ngoài: khối u ác tính có thể xâm lấn vào thành động mạch gây chảy máu. Giải phẫu ứng dụng ngoại khoa tuyến mang tai [36] Năm 1937, lần đầu tiên tuyến nước bọt mang tai được mô tả gồm 2 thùy, thần kinh mặt (dây VII) không nằm trong nhu mô tuyến mà chỉ đi qua tuyến giữa 2 thùy tuyến như kiểu "kẹp Sandwich". Các nhánh chạy qua tuyến là nhánh vận động, không có bất cứ nhánh chế tiết nào. Như chúng ta biết, không có bất cứ tuyến chế tiết nào trong cơ thể chứa hạch bạch huyết trong nhu mô tuyến.
Tất cả các thành phần như hạch bạch huyết và thần kinh đều nằm ngoài nhu mô tuyến. Sự phân bố thần kinh mặt qua tuyến mang tai có một số hình thái khác nhau. Tuyến mang tai có thùy nông kích thước lớn, thùy sâu có kích thước nhỏ nối với nhau bằng eo tuyến. Các nhánh thần kinh mặt thóat ra khỏi nền sọ tại lỗ trâm chũm đi được khoảng 1,25cm thì chui vào bình diện sâu của tuyến ngay dưới điểm giữa của bờ sau tuyến, thực tế dây thần kinh VII đi vào máng được tạo bởi mạc bọc thùy nông tuyến.
Phần thân chính của dây mặt đi vào phần eo tuyến từ phía sau sau đó nó chia thành 2 nhánh chính gồm nhánh thái dương mặt ở phía trên để băng qua phía trên eo tuyến và nhánh cổ mặt đi qua bờ dưới eo tuyến. Do kích thước thùy sâu nhỏ cho nên thực tế các nhánh nhỏ nằm bên ngoài thùy này lại nằm giữa thùy nông và cơ cắn. Đặc biệt trong khi mổ chúng ta có thể thấy nhánh thái dương mặt thường to hơn 2 nhánh còn lại, đây chính là nhánh ưu tiên bảo tồn trong phẫu thuật cắt tuyến mang tai. Trong một số trường hợp sau khi chia ra 2 nhánh chính bọc lấy bờ trên và bờ dưới eo tuyến chỉ có một số nhánh nhỏ của 2 thân chính này kết nối với nhau thành đám rối ngay trước eo tuyến.
Đây là nguyên nhân giải thích cho những trường hợp liệt mặt bán phần hồi phục muộn sau mổ cắt u tuyến. 9 Phần eo tuyến: Có kích thước rất thay đổi, các nhánh chính của thần kinh mặt ôm lấy eo tuyến sau chia nhánh từ nhánh chính trước khi đi vào giữa 2 thùy tuyến. Thùy nông: Là thùy lớn, có kích thước thay đổi nằm nông, thường đường kính dài 5cm chạy từ hố mang tai đến cổ. Thùy sâu: 40% các trường hợp thùy sâu rất nhỏ nằm vắt qua nền của lồi cầu xương hàm dưới.
Mô học Tuyến mang tai là một tuyến ngoại tiết kiểu chùm nho, tuyến thường được chia thành nhiều tiểu thùy cách nhau bởi các vách liên kết.