CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu 1. Những cơ sở lý luận cho lập quy hoạch sử dụng đất 1. Khái niệm về quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định (Luật đất đai, 2013).
Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chỉ được thực hiện trong các trường hợp sau đây: Có sự điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia; quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế - xã hội mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất; Do tác động của thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất; Có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất; Có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương. Nội dung điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất là một phần của quy hoạch sử dụng đất đã được quyết định, phê duyệt (Luật đất đai, 2013). Bản chất của quy hoạch sử dụng đất Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Đất đai là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia (không thể có quốc gia mà không có đất đai).
Đất đai là loại tài sản đặc biệt - bất động sản - tức là loại tài sản không thể di dời được (Điều 181 - Bộ luật dân sự). Đất đai là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoảnh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính.) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: h 4 Kinh tế: bằng hiệu quả sử dụng đất. Kỹ thuật: các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu.
Pháp chế: xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo pháp luật (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010). Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai a. Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử của quy hoạch sử dụng đất đai. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất).
Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai (như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế.), cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những người chủ đất - giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội. Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô. Nước ta hiện nay, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội.
Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau. Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ. toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Quy hoạch sử dụng đất đai đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội, như: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông công nghiệp, môi trường sinh thái.
Với đặc điểm này, quy hoạch có tính chất tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều h 5 phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định. Tính dài hạn: Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã hội. Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến. Thời hạn (phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất đai từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn.
Căn cứ vào các dự báo cụ thể biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế - xã hội quan trọng (như thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp.) từ đó xác định quy hoạch ngắn và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng chính sách và biện pháp có tính chiến lược, là căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn. Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất các ngành, như: Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng. Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành. Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng.
Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất. Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế xã hội, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa, quy hoạch sẽ càng ổn định. Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất rõ đặc tính chính trị và chính sách xã hội. Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai với mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái.
Tính khả biên: Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế - xã hội thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp. Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết. Điều đó thể hiện tính khả biến của quy hoạch - quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “Quy hoạch - thực h 6 hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện.” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao (Võ Tử Can, 2006). Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Điều kiện tự nhiên: Bao gồm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, thủy văn,.
Nhân tố kinh tế - xã hội: Bao gồm dân số, lao động, quản lý chính sách môi trường và chính sách đất đai, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý sử dụng lao động… Nhân tố không gian: Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất hay phi vật chất đều cần đến đất đai như điều kiện không gian để hoạt động, đặc tính cung cấp không gian của lao động là yếu tố vĩnh cửu của tự nhiên ban tặng cho con người. Vì vậy, không gian trở thành nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010). Căn cứ pháp lý lập quy hoạch sử dụng đất Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013; Luật Bảo vệ môi trường 17/11/2020; Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017; Luật số 35/2018/QH14 (Luật sửa đổi bổ sung một số điều của 37 Luật liên quan đến quy hoạch ngày 20/11/2018); Nghị quyết số 751/2019/UBTVQH14 ngày 16/8/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích một số điều của Luật Quy hoạch; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 01/2021/TT-BTNMT ngày 12/4/2021 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về việc: Lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số 1661/QĐ-UBND ngày 28/6/2019 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Krông Năng.