ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh viện Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh là ệnh viện đ Kho Hạng II. Đến n y, Bệnh viện đã phát triển gồm 8 phòng, 26 kho ,đã có 560 giường, 621 cán ộ nhân viên, trong đó có 181 ác sĩ, mỗi ngày khám, chữ ệnh cho khoảng 2700- 3200 ệnh nhân. Bệnh viện Quận 2 đ ng trở thành đị chỉ khám chữ ệnh và kiểm tr sức khỏe uy tín, chất lượng cho người dân trên đị àn Quận 2, Quận 9, Thủ Đức, Nhơn Trạch và các vùng lâncận. Ngày 12 tháng 5 năm 2016Chủ tịch UBND Quận 2 đã ký Quyết định số 1622/ QĐ- UBND gi o quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính gi i đoạn 2016 – 2018 cho Bệnh viện.
Đây là một th y đổi lớn về cơ chế hoạt động tài chính củ Bệnh viện, vừ là cơ hội và cũng tạo r không ít thách thức khi Bệnh viện đ ng trong gi i đoạn phấn đấuđến năm 2018 sẽ trở thành Bệnh viện đ kho Hạng I hoàn chỉnh. Cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng là một trong những chủ trương lớn trong lĩnh vực tài chính, thực hiện thành công chủ trương này sẽ tạo tiền đề thắng lợi cho việc cải cách về cơ chế quản lý tài chính công, hơn thế nữa việc thực hiện tự chủ còn giúp các đơn vị tạo được động lực phát triển để nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân ngày càng hoàn thiện và tăng thêm thu nhập cho người lao động. Thực hiện tự chủ tài chính đã giúp ệnh viện huy động được các nguồn vốn trong toàn xã hội để đầu tư TTB và cơ sở hạ tầng (CSHT), giảm dần sự phụ thuộc củ ệnh viện vào ngân sách nhà nước (NSNN). Tuy nhiên quá trình thực hiện đã cho thấy có thể xảy ra các nguy cơ: Lạm dụng dịch vụ để tận thu dưới các hình thức như tăng chỉ định sử dụng các xét nghiệm và TTB kỹ thuật c o; tăng nhập viện điều trị nội trú; kéo dài thời gi n điều trị; sử dụng thuốc không hợp lý.
Nguy cơ tăng chi phí điều trị và nguy cơ chất lượng phục vụ người ệnh có thể ị ảnh hưởng do đông người ệnh, khối lượng công việc nhiều trong khi các ệnh viện không đủ nhân viên y tế (NVYT) trực tiếp chăm sóc và điều trị cho người ệnh[30]. Đến thời điểm này, Bệnh viện Quận 2 chư có nghiên cứu nào về thực hiện tự chủ tài chính để đánh giá kết quả đạt được tại Bệnh viện cũng như những tác 2 động không mong muốn, từ đó có giải pháp nhằm thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài chính. Nghiên cứu “Đánh giá kết quả hoạt độngtài chính của Bệnh viện Quận 2 thành phố Hồ Chí Minhtrước và sau tự chủ tài chính (năm 2014-2017)” được tiến hành. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Mô tả kết quả hoạt động tài chính của Bệnh viện Quận 2 TP.HCM trước và sau tự chủ tài chính - Phân tích một số yếu tố thuận lợi và khó khăn gây ảnh hưởng tới kết quả hoạt động tài chínhtại Bệnh viện Quận 2 TP.HCM trong quá trình tự chủ tài chính.
TỔNG QUAN TÀI IỆU 1. Tổng quan tà c ín bện v ện 1. Địn ng ĩa p n loạ bện v ện Bệnh viện là cơ sở khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho người bệnh[6].Có nhiều cách phân loại bệnh viện, nếu căn cứ theo quyền sở hữu sẽ có 2 loại là bệnh viện công lập (thuộc sở hữu củ nhà nước) và bệnh viện ngoài công lập[7].Người nghiên cứu chỉ đề cập đến các bệnh viện công lập (s u đây gọi tắt là bệnh viện).Căn cứ vào khả năng huy động nguồn thu sự nghiệp, bệnh viện được phân thành 3 loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính[15]: (1)Bệnh viện tự bảo đảm chi phí hoạt động. (2)Bệnh viện tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động.
(3)Bệnh viện do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động. Cách phân loại này là cơ sở để nhà nước cấp ngân sách hàng năm cho các bệnh viện và là cơ sở để các bệnh viện thực hiện phân phối kết quả hoạt động tài chính (KQHĐTC) hàng năm. Các c ín sác l n quan đ n tà c ín bện v ện 1. Vai trò, chức năng của tài chính bệnh viện.
Tài chính bệnh viện (TCBV) có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của bệnh viện. V i trò này được quy định bởi các chức năng củ tài chính. Đó là chức năng huy động các nguồn tài chính y tế một cách thích hợp; quản lý và phân bổ nguồn tài chính[21].Ngoài hai chức năng trên, TCBV còn h i chức năng qu n trọng khác, đó là chức năng khuyến khích việc nâng cao chất lượng DVYT và phát triển kỹ thuật y tế; bảo vệ người dân trước các rủi ro do các chi phí y tế quá lớn để họ không bị nghèo hó. Đây là h i chức năng khác iệt của TCBV so với tài chính doanh nghiệp và TCBV tư, là những đơn vị hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Chức năng này yêu cầu các bệnh viện trong hoạt động thu sự nghiệp phải tăng thu một cách hợp lý, đồng thời phấn đấu tiết kiệm chi để giảm chi phí điều trị. Một số chính sách liên quan đến tài chính bệnh viện qua các giai đoạn Chính sách thu một phần viện phí Năm 1986, nhà nước bắt đầu sự nghiệp đổi mới chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung kém hiệu quả s ng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội 5 chủ nghĩ [5].Chỉ trong 3 năm đổi mới, nền kinh tế của Việt N m đã từng ước phát triển và có những th y đổi lớn. Điều này chứng tỏ, con đường đổi mới đã đi đúng hướng. Vì vậy, đến năm 1989 Việt N m đã ắt đầu từng ước thực hiện xã hội hóa (XHH), xóa bỏ dần cơ chế bao cấp trong y tế, ước đầu thu một phần viện phí (MPVP) với mức thu rất thấp theo hình thức thu viện phí ình quân theo ngày điều trị nội trú (Quyết định 45/QĐ-HĐBT ngày 24/4/1989).
Trong các năm từ 1990 – 1994, nguồn thu viện phí đã đóng góp một phần vào nguồn thu cho ngành y tế, song mức đóng góp còn thấp, chỉ bằng trên dưới 10% NSNN cấp cho công tác KCB. Mặc dù, NSNN cấp cho ngành y tế hàng năm vẫn tăng về số tuyệt đối, song tỉ lệ ngân sách chi cho y tế so với tổng chi ngân sách có xu hướng giảm, chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu chi của ngành y tế. Vì vậy, theo đề nghị của Bộ trưởng BYT tháng 8/1994 Chính phủ ban hành Nghị định 95/1994/NĐ- CP (bổ sung, sử đổi thay thế quyết định số 45/QĐ-HĐBT ngày 24/4/1989) về thu MPVP nhằm tăng thêm kinh phí đảm bảo chất lượng KCB cho nhân dân. Chính sách thu MPVP đ ng triển khai gồm:Nghị định 95/1994/NĐ-CP ngày 27/8/1994 (Nghị định 95) của Chính phủ về việc thu MPVP.[11] Nghị định 33/1995/NĐ-CP ngày 23/5/1995 (Nghị định 33) của Chính phủ về việc sử đổi khoản 1 điều 6 của Nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 về thu MPVP.[12]Thông tư liên bộ số 14/TTLB ngày 30/9/1995 của BYT, Bộ Tài chính, Bộ L o động- thương binh và xã hội, Ban vật giá chính phủ (Thông tư 14) hướng dẫn thực hiện việc thu MPVP.[10]Thông tư liên bộ số 03/2006/TTLB-BYT-BTC-BLĐTB & XH ngày 26/01/2006 (Thông tư 03) bổ sung Thông tư liên bộ số 14/TTLB.[29] Chính sách quy định thu viện phí là khoản tiền người bệnh phải trả cho Bệnh viện khi KCB tại Bệnh viện.
Đây là giá thu MPVP do chư tính đủ cơ cấu chi phí trong giá[10], [11], [12].Giá thu MPVP là một phần chi phí cho việc KCB, thu MPVP chỉ tính tiền thuốc, dịch truyền, máu, hóa chất xét nghiệm, phim Xquang, vật tư tiêu h o thiết yếu và dịch vụ KCB, không tính khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), chi phí thường xuyên, chi phí hành chính, đào tạo nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng CSHT và TTB. Đối với người bệnh ngoại trú, biểu giá thu MPVP được tính theo lần khám bệnh và các dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp sử dụng[10], [11], [12].Đối 6 với người bệnh nội trú, biểu giá thu MPVP được tính trên ngày giường nội trú của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh bao gồm: Thuốc, máu, dịch truyền; các dịch vụ kỹ thuật như phẫu thuật, thủ thuật, xét nghiệm, chụp phim. Nghị định 95 được chính phủ n hành năm 1994, đến năm 2011 đã được 17 năm song vẫn chư có sự th y đổi chính thức nào về mặt văn ản. Giá viện phí vẫn áp dụng theo cơ cấu giá thu MPVP, không được điều chỉnh theo chỉ số giá hàng năm đã ộc lộ quá nhiều bất hợp lý so với mặt bằng giá cả chung của xã hội.
Giá viện phí thấp, mang nặng tính bao cấp nhưng NSNN lại không bao cấp được phần thiếu hụt. Điều này đòi hỏi nhà nước cần th y đổi cơ chế tính giá viện phí[5], [24]. Bên cạnh quy định chế độ thu MPVP, Nghị định 95 cũng quy định cơ chế phân phối quỹ tiền thưởng cho NVYT từ nguồn thu viện phí. Ngoài quỹ tiền lương, phụ cấp do NSNN cấp, Nghị định 95 quy định các bệnh viện được trích 30 % trên số viện phí thu được để lập quỹ thưởng cải thiện thu nhập cho NVYT [11].Đây là một nguồn kinh phí đáng kể để cải thiện phần nào thu nhập cho NVYT.
Tuy nhiên theo thời gi n, quy định này đã ộc lộ nhiều bất cập. Đó là việc trích quỹ chỉ dựa trên số thu viện phí làm cho các bệnh viện ít qu n tâm đến tiết kiệm chi phí, đến hiệu quả hoạt động tài chính. Từ đây đòi hỏi nhà nước phải có cơ chế tài chính mới phù hợp hơn th y thế cho cơ chế phân phối thu nhập quy định tại Nghị định 95. Chính sách bảo hiểm y t Ở Việt n m, BHYT được hình thành và phát triển từ năm 1992 với mô hình BHYT bắt buộc cho những người làm công ăn lương[24].Năm 2002 chính phủ chuyển BHYT từ BYT sang bảo hiểm xã hội Việt Nam cùng với việc dần hoàn thiện các chính sách về BHYT đểtăng cường phát triển BHYT.
Năm 2005 Thủ tướng chính phủ ký Nghị định 63/2005/NĐ-CP n hành Điều lệ BHYT, năm 2008 Quốc hội đã thông qu Luật BHYT, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và triển khai BHYT nhằm mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân.