Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyế t về phƣơng pháp thẻ điể m cân bằ ng (BSC) và đánh giá kết quả hoạt động. Chƣơng 2: Phân tích thƣ̣c tra ̣ng đánh giá kế t quả hoạt động tại KBNN TP.HCM Chƣơng 3: Vâ ̣n du ̣ng thẻ điể m cân bằ ng để đánh giá kế t quả hoạt động tại KBNN TP.HCM Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHƢƠNG PHÁP THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BSC) VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG 1. Tổ ng quan về thẻ điể m cân bằ ng (BSC) 1. Nguồn gốc và sự phát triển của thẻ điể m cân bằ ng Những năm đầu thập niên 1990, nhiều nhà khoa học nghiên cứu về kế toán quản trị đã bổ sung thêm cho kế toán quản trị một số công cụ nhằm góp phần hoàn thành tốt hơn chức năng kiểm soát, đo lƣờng và đánh giá thành quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Phƣơng pháp thẻ cân bằng điểm (Balance scorecard method – BSC) đƣợc xây dựng bởi Robert Kaplan – một giáo sƣ chuyên ngành kế toán thuộc đại học Harvard và David Norton – một chuyên gia tƣ vấn thuộc vùng Boston cũng xuất phát từ lý do trên. Thẻ điể m cân b ằng điểm (BSC) đánh giá hoạt động của một tổ chức, một bộ phận thông qua một hệ cân bằng 4 yếu tố: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển. Những đánh giá này bao gồm cả những đánh giá tài chính truyền thống của sự quản lý trong quá khứ, nhƣng chúng cũng cung cấp những chiến lƣợc đánh giá cho hoạt động trong tƣơng lai. Khái niệm thẻ điể m cân bằng (BSC) Thẻ điểm cân bằng (BSC) đƣợc phát triển bởi Rober S.
Kaplan và David P. Norton tại trƣờng Đại học Havard từ những năm 1992 - 1995. BSC là một hệ thống nghiên cứu và quản lý chiến lƣợc dựa vào đo lƣờng, đƣợc sử dụng cho mọi tổ chức. Nó đƣa ra một phƣơng pháp để chuyển các chiến lƣợc hoạt động kinh doanh của các công ty thành các chỉ tiêu đánh giá thông qua 4 yếu tố của thẻ điểm cân bằng.
Thẻ điểm cân bằng là m ột hệ thống nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lƣợc của tổ chức thành những mục tiêu và thƣớc đo cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống để đo lƣờng thành quả hoạt động trong một tổ chức trên bốn yế u tố (phƣơng diê ̣n ): tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển. Các yếu tố của thẻ điểm cân bằng 1. Yế u tố tài chính Đây là yếu tố quan trọng nhất của thẻ cân bằng điểm vì nó là nền tảng đánh giá của tất cả những khía cạnh còn lại vì khía cạnh tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp tình hình hoạt động và mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp. Các thƣớc đo ở khía cạnh này cho chúng ta biết chiến lƣợc có đƣợc thực hiện để đạt đƣợc kết quả cuối cùng hay không.
Chúng ta có thể tập trung toàn bộ nổ lực và khả năng của chúng ta vào việc cải thiện sự thỏa mãn của khách hàng, chất lƣợng, giao hàng đúng hạn hoặc hàng loạt vấn đề khác nhƣng nếu không chỉ ra những tác động tích cực đến tỷ số tài chính của tổ chức thì những nổ lực của chúng ta cũng bị giảm bớt giá trị. Thông thƣờng chúng ta quan tâm tới các tỷ số truyền thống nhƣ: lợi nhuận, tăng doanh thu, và các giá trị kinh tế khác. Thông tin của yếu tố tài chính đƣợc tổng hợp từ kết quả kinh doanh đo lƣờng đƣợc từ các hoạt động trong kỳ. Chỉ tiêu tài chính này phản ánh rõ rệt việc thực hiện các chiến lƣợc của doanh nghiệp, đóng góp cho mục tiêu chung và từ đó có thể rút ra những điểm cần thiết để cải tiến quá trình hoạt động.
Chiến lƣợc kinh doanh, các mục tiêu tài chính liên quan đến lợi nhuận, sự hoàn vốn và chuỗi giá trị kinh tế mang lại đang đƣợc các nhà quản lý quan tâm. Yế u tố khách hàng Yếu tố khách hàng đƣợc thiết kế chỉ đế đánh giá việc doanh nghiệp có thực hiện tốt việc thõa mãn những nhu cầu của khách hàng và thị trƣờng tiêu thụ của nó hay không? Đó là điều không thể thiếu đối với sự thành công của một doanh nghiệp, nhƣng nó lại bị bỏ qua bởi những đánh giá truyền thống. Mục tiêu ở đây là cung cấp cho khách hàng những gì họ muốn. Thông qua việc đo lƣờng sự thõa mãn, lòng trung thành của khách hàng, khả năng nắm giữ khách hàng, khả năng khai thác khách hàng tiềm năng, thị phần.
Các chỉ tiêu biểu hiện cụ thể nhƣ số mẫu sản phẩm mới làm ra đƣợc khách hàng chấp nhận, số lần giao hàng đúng hạn hay trễ hạn, số lƣợng hàng bị trả lại, 6 phân loại khách hàng thành nhóm khách hàng quen thuộc, khách hàng tiềm năng hay khách hàng vãng lai để tính ra doanh số. Khía cạnh khách hàng bao gồm các chỉ tiêu quan trọng và đƣợc xem xét khi đánh giá kết quả đầu ra đạt đƣợc của các chiến lƣợc. Yế u tố quy trình nội bộ Khía cạnh về các chu trình kinh doanh nội bộ thƣờng đƣợc tạo lập sau khía cạnh về tài chính và khách hàng. Thông tin của khía cạnh này cho biết khả năng doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu nhằm tạo nên các giá trị cho khách hàng và lợi ích cổ đông.
Thu hút và giữ khách hàng trong thi ̣ phần mục tiêu và phải thoả mãn nhu cầu khách hàng mục tiêu, thoả mãn những mong đợi của cổ đông về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp nhận diện đƣợc những yếu tố cần thiết để thu hút, giữ lại và thoả mãn khách hàng mục tiêu, nó có thể định ra tiêu chuẩn đánh giá quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ mà nó phải vƣợt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh. Yế u tố học hỏi và phát triển Yếu tố cuối cùng trong thẻ cân bằng điểm là khía cạnh mà kết dính các phần lại với nhau, đó là khía cạnh học hỏi và phát triển, đƣợc xác định nhƣ là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tƣơng tự nhƣ yếu tố khách hàng, yếu tố về nhân viên cũng đƣa ra những chỉ tiêu đánh giá nhƣ sự thỏa mãn nhu cầu của nhân viên, việc giữ chân các nhân viên giỏi, kỹ năng của nhân viên, chế độ khen thƣởng.
tạo điều kiện cạnh tranh trong môi trƣờng làm việc. Hệ thống thông tin yêu cầu tính chính xác, kịp thời cung cấp thông tin để ra quyết định. Cuối cùng các thủ tục kết hợp với hệ thống thông tin hỗ trợ cho các hoạt động của nhân viên hiệu quả, tiết kiệm thời gian mà vẫn đáp ứng đƣợc nhu cầu quản lý 1. Vai trò của Thẻ điể m cân bằ ng (BSC) Thẻ điểm cân bằng có vai trò là m ột hệ thống đo lƣờng, hệ thống quản lý chiến lƣợc và là công cụ trao đổi thông tin.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ 7 giới hạn trình bày vai trò của BSC là một hệ thống đo lƣờng kế t quả hoạt động của một tổ chức. BSC bổ sung cho các “chỉ số trễ” đó là kết quả của những hành động đã thực hiệntrong quá khứ bằng những định hƣớng hiệu quả kinh tế trong tƣơng lai, còn gọi là các “chỉ số sớm” nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà quản lý ra quyết định. Để thấy rõ nội dung này, tác giả đi vào chi tiết các mục tiêu và thƣớc đo trong từng phƣơng diện.Vai trò của yếu tố tài chính Tài chính là yế u tố đƣ ợc các tổ chức chú trọng nhất từ trƣớc đến nay vì nó là tiền đề cho mọi hoạt động trong tổ chức. Trong yế u tố này , các tổ chức đặc biệt quan tâm đến những thƣớc đo hoạt động tài chính vì suy cho cùng thì thƣớc đo tài chính đƣa ra một cái nhìn tổng thể về kết quả hoạt động của một tổ chức và kết nối trực tiếp với những mục tiêu dài hạn của tổ chức.
Tuy nhiên, ý nghĩa các kết quả tài chính đối với mỗi loại hình tổ chức rất khác nhau. Với các tổ chức kinh doanh, phần lợi nhuận tập trung về tay những nhà đầu tƣ. Còn các tổ chức phi lợi nhuận luôn quan tâm đến nhiệm vụ phục vụ lợi ích cho cộng đồng và chăm lo đời sống cho ngƣời lao động. Tài chính vững mạnh sẽ giúp cho các tổ chức này có điều kiện tăng cƣờng cơ sở vật chất, phục vụ các nhu cầu của xã hội cũng nhƣ tạo môi trƣờng làm việc tốt hơn cho ngƣời lao động.
Mục tiêu tài chính trong BSC luôn xuất phát từ chiến lƣợc của tổ chức. Trong ngắn hạn cũng nhƣ dài hạn, tổ chức nào cũng mong muốn tình hình tài chính tốt nghĩa là lợi nhuận tăng lên, ngân sách hoạt động của tổ chức luôn trong tình trạng thặng dƣ hay ít nhất cũng không bị thâm hụt. Do đó, họ luôn đặt ra các mục tiêu tăng nguồn thu, tiết kiệm các khoản chi và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Thƣớc đo của yế u tố tài chính: Tổ chức phải thiết kế các thƣớc đo để đolƣờng việc thực hiện các mục tiêu tài chính đã đƣợc thiết lập.
Thƣớc đo phù hợp với mục tiêu là cơ sở để đánh giá liệu tổ chức có đạt đƣợc mục tiêu tài chính và tổ chức có bị chệch 8 hƣớng hay không. Đây cũng chính là vấn đề kiểm soát tài chính. Kiểm soát tài chính thƣờng liên quan đến việc thiết lập mục tiêu hoạt động, đo lƣờng hoạt động, so sánh hoạt động với mục tiêu đã đặt ra, tính toán những khác biệt (biến động) giữa hoạtđộng đƣợc đo lƣờng và mục tiêu từ đó có hành động để đối phó với biến động nếu cần thiết. Vai trò của yếu tố khách hàng Trong yế u tố khách hàng, tổ chức phải xác định bộ phận khách hàng và phân khúc thị trƣờng mà tổ chức chọn để cạnh tranh.
Yế u tố khá ch hàng là đích đến cuối cùng của các tổ chức phi lợi nhuận vì nhiệm vụ của các tổ chức này là tập trung vào khách hàng và phục vụ những nhu cầu của khách hàng. Còn đối với các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thì khách hàng là yếu tố cơ bản để tổ chức đạt đƣợc mục tiêu tài chính. Hầu hết các tổ chức, đặc biệt là các tổ chức dịch vụ đều đƣa ra quan điểm xem “khách hàng là thƣợng đế”. Ngày nay, nhu cầu của khách hàng rất đa dạng và phức tạp.