Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Y tế tư nhân trên thế giói Trên the giới, y tể tư nhân đã xuất hiện từ rất lâu. Lúc dầu nhũng người hành nghe chỉ bằng những kinh nghiệm dân gian để khám chữa bệnh cho mọi người và không vì mục đích lợi nhuận. Họ làm việc với mục đích chính là giúp đỡ mọi người, làm phúc.
Ngày nay, hệ thống y tể tư nhân trên thế giới có nhiều thay đổi và phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của các nền kinh tế. Tùy vào chế độ chính trị của mỗi nước mà hệ thống y tư nhân cỏ sự phát triển khác nhau. Tại Thái Lan. HNYTN chủ yếu tập trung vào hoạt động KCB và đáp ứng yêu cầu của những người có khả năng chi trả phí dịch vụ.
Ngoài các bệnh viện tư, thì hình thức phòng khám đa khoa (PKĐK) tư cũng rất phổ biến tại Thái Lan. Nhiều phòng khám có từ 10-50 giường và cung cấp các dịch vụ y tế từ thông thường đến chất lượng cao. PKĐK mở cửa để đón bệnh nhân cấp cứu 24/24 giờ trong ngày. Bên cạnh PKĐK tư nhân còn có các phòng khám chuyên khoa (PKCK) nội, sản khoa, răng, xét nghiệm.ngoài ra còn có các phòng mạch do một nhóm bác sĩ hoặc một bác sĩ độc lập mở và thường hoạt động ngoài giờ.
về nguồn nhân lực cung cấp cho dịch vụ y tư nhân (YTN) ở Thái Lan chủ yếu là các bác sĩ làm việc ở các cơ sở y tế công, họ làm thêm ở các bệnh viện hoặc phòng khám tư ngoài giờ. Các cơ sở HNYTN tập trung chủ yếu tại thú đô Băng - Cốc và các thành phố lớn, điều này làm hạn che khả năng tiếp cận với các dịch vụ YTN của người dân ở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, một mặt do đau tư vào công nghệ mới và đắt tiền, một mặt do công tác quản lý về giá của Chính phù Thái Lan còn hạn chế đã làm tăng thêm chi phí cho người sử dụng dịch vụ (người SDDV), vì vậy những người có thu nhập thấp ở Thái Lan ngày càng ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ YTN [36]. Năm 1947, khi Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập, các cơ sở HNYTN tại nước này chỉ phục vụ từ 5 - 10% tổng số các ca bệnh.
Hầu hết các bệnh viện tư tại Án độ có số giường ít. 85% số bệnh viện tư có sức chứa dưới 25 giường và trung 5 bình mỗi bệnh viện tư ở Án độ chỉ có 10 giường. Mặc dù vậy, hiện nay có tới 82% tổng sổ lượt bệnh nhân ngoại trú. 58% lượt bệnh nhân nội trú và 40% các ca sinh đẻ thực hiện tại các cơ sở y tư nhân ở Ấn Độ.
Một trong những lý do để các cơ sở HNYTN ở Ấn Độ thu hút được người SDDV là do không có sự khác biệt về giá dịch vụ giữa bệnh viện tư và bệnh viện công. Bên cạnh đó ngân sách của Chính phú chi cho y tế rất thấp, chỉ chiếm từ 0,9% đến 2% GDP và chủ yểu là kết hợp với BHYT đe chi trả cho các gia đình nghèo. Cũng giống như ở Việt Nam, tại Án Độ các bệnh viện tư nhân cũng được thành lập dưới nhiều hình thức như: góp cổ phần, liên doanh liên kết hoặc 100% là von đầu tư của nước ngoài. Một số bệnh viện lởn tại đây không chỉ cung cấp các dịch vụ y tế mà còn tham gia vào hoạt động nghiên cứu và đào tạo.
Hầu hết các bệnh viện đều tham gia cung cấp các dịch vụ y tế công cộng trên địa bàn. Tại Ắn độ, người SDDV YTN không chỉ là những người có thu nhập cao mà còn có cả người nghèo. Điều này cho thấy HN YTN ở Ẩn Độ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế cho cộng đồng [35],[40],[43]. Hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Hy Lạp là một điển hình của sự kết hợp y tể công và y tế tư nhân.
Hệ thống Y tể của Hy Lạp bao gồm: hệ thống y tế quổc gia, các đơn vị y tế trực thuộc quỹ bảo hiểm y tế và y tể tư nhân [37]. Hệ thống HNYTN tại Hy Lạp bao gồm các bệnh viện, các trung tâm chẩn đoán và các phòng khám tư. Nhiều cơ sở HNYTN được đầu tư các trang thiết bị hiện đại, các kỹ thuật cao. Khi đến khám và điều trị tại đây khách hàng phải tự chi trả kinh phí.
Việc lựa chọn KCB tại các cơ sở y tể công hay y tế tư nhân của người dân Hy Lạp có liên quan tới tình trạng sức khỏe, yếu tố kinh tể - xã hội cùa khách hàng. Những người có trinh độ học vấn cao (đại học và trên đại học), có thu nhập cao và những người ít ốm đau thích tới KCB tại các cơ sở y tể tư nhân hơn [37], Tại Hàn Quốc, hệ thống chăm sóc sức khỏe chủ yếu do tư nhân sở hữu và tập trung chủ yểu ở các thành phổ, với 85% số giường bệnh là của tư nhân [38]. Những bệnh viện lớn nhất, hoặc hiện đại nhất Hàn Quốc đều do tư nhân đầu tư và quản lý. Trong khi đó nhà nước tập trung đẩu tư cho mạng lưới y tế ở các vùng nông thôn, vùng nghèo, nơi mà y tế tư nhân không đầu tư vào, dưới các hình thức: các trung 6 tâm y tế (TTYT), các điểm chăm sóc y tế ban đầu.
Có khoảng 80-90% nguồn nhân lực trong ngành y te làm việc trong các cơ sở y tế tư nhân. 50% kinh phí đầu tư cho y tể Quốc gia do tư nhân chi trả. Khoảng 5,6% GNP được chi cho chăm sóc sức khỏe và chi phí cho Y tể, tính theo đầu người dân Hàn Quốc là trên 1000ƯSD vào năm 2005. Hàn Quốc là một trong số ít nước mà bác sĩ HNYTN được kê đơn và bán thuốc tại cơ sở KCB [38].
Tại Mỹ, hệ thống khám chữa bệnh hoàn toàn do tư nhân nắm giữ. Hệ thống này hiện đại, với nhiều kỹ thuật công nghệ cao cùng với những bác sĩ cỏ tay nghề giỏi. Năm 2000, Tổ chức Y tế The giới đã xếp Mỹ là nước có hệ thống chăm sóc sức khỏe đứng đầu thế giới ở hai lĩnh vực: đáp ứng nhanh và phí tổn cao. Nhưng đứng thử 37 the giới về hoạt động điều trị, đứng thứ 41 về nước có tỷ lệ chết sơ sinh thấp nhất và đứng thứ 45 về tuổi thọ trung bình của người dân.
Mặc dù hiện tại Chính phủ Mỹ có những quỹ để trợ giúp y tế cho người cao tuổi, người tàn tật, trẻ em, người nghèo và các cựu chiến binh nhưng sự phiền toái và mất công bàng vẫn xảy ra cho họ, như thường xuyên phải chờ đợi lâu khi làm các xét nghiệm và lấy kết quả chuẩn đoán, hoặc phải làm lại các xét nghiệm do nhầm lẫn, quan hệ giữa thầy thuốc và bênh nhân không được tốt. [44], Mậc dù có sự khác nhau về chế độ chính trị, xã hội song ở hầu hết các quốc gia đều có hệ thống dịch vụ y tể tư nhân. Hệ thống y tế tư nhân ngày càng được thừa nhận là nguồn cung cấp dịch vụ y tế quan trọng trên toàn cầu, kể cả ở những nước giàu và nước có thu nhập trung bình. Tuy nhiên vai trò và hoạt động hành nghề của y tế tư nhân ở các quốc gia lại khác nhau tùy thuộc vào định hướng, công tác quản lý và kiểm soát của nhà nước.
Y tế tư nhân tại Việt Nam 1. Một sổ khái niệm [34] - Hành nghề Y tư nhân là việc cá nhân hoặc tổ chức đãng ký khám, chừa bệnh theo quy định của pháp lệnh HNYDTN và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 7 - Cơ SỞ Y tư nhân là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý điều hành. - Cơ sở y dân lập là cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, được đầu tư bang vốn ngoài ngân sách nhà nước, do tổ chức, cá nhân đóng góp và tự quản lý, điều hành.
- Chứng chỉ hành nghề y tư nhân là vãn bản do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cap cho cá nhân có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp lệnh HNYDTN. - Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghe y tư nhân là văn bản do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp lệnh HN YDTN. Các hình thức tổ chức hành nghề Y tư nhân ở Việt Nam Theo Pháp lệnh HNYDTN năm 2003 và Thông tư số 07/2007/TT-BYT ngày 25/5/2007 hướng dẫn hành nghề y, y học cổ truyền và trang thiết bị y tế tư nhân, các hình thức tổ chức HNYTN tại Việt Nam bao gồm [13],[34]: 1. Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa 2.
Phòng khám đa khoa (PKĐK) 3. Phòng khám chuyên khoa (PKCK) - Phòng khám nội tổng hợp, phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội - Phòng khám gia đình, phòng tư vấn khám chữa bệnh qua điện thoại, phòng chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế. - Phòng khám chuyên khoa ngoại - Phòng khám chuyên khoa phụ sản - kế hoạch hóa gia đình ( phụ sản - KHHGĐ) - Phòng khám chuyên khoa răng - hàm - mặt ( RHM) - Phòng khám chuyên khoa mắt - Phòng khám chuyên khoa tai - mũi - họng ( TMH) - Phòng khám chuyên khoa giải phẫu thẩm mỹ 8 - Phòng khám chuyên khoa điều dưỡng, phục hồi chức năng và vật lý trị liệu - Phòng khám chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh. - Phòng khám chuyên khoa tâm thần - Phòng khám chuyên khoa ung bướu - Phòng khám chuyên khoa da liễu - Phòng khám chuyên khoa nhi - Phòng xét nghiệm: sinh hóa, huyểt học, vi sinh, miễn dịch, dị ứng giải phẫu bệnh vi thể 4.
Nhà hộ sinh 5. Cơ sở dịch vụ y te - Cơ sờ dịch vụ làm răng giả - Cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp - Cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà - Cơ sở dịch vụ kính thuốc 6. Cơ sở dịch vụ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài Thông tư (TT) số 07/2007/TT-BYT ngày 25/5/2007 ra đời đã bãi bỏ các quy định về hành nghề y, y học cổ truyền và trang thiết bị tại TT sổ 01/2004/TT-BYT ngày 06/01/2004. TT số 07/2007/TT-BYT quy định các hình thức tổ chức hành nghề y tư nhân và các điều kiện, phạm vi chuyên môn hành nghề với từng hình thức cụ thể hơn, giúp cho công tác quản lý, cấp phép, thanh tra.