ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây kinh tế của cả nƣớc đã có những bƣớc cải thiện vƣợt bậc, mức sống của ngƣời dân tăng cao, theo đó khoảng cách giàu nghèo cũng gia tăng tạo nên những cách biệt trong việc hƣởng thụ các dịch vụ xã hội giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo, đặc biệt là sự phân biệt hƣởng thụ các dịch vụ y tế (DVYT), chăm sóc sức khỏe (CSSK) và việc đƣợc sử dụng các trang thiết bị y tế hiện đại [50]. Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngƣời nghèo là những ngƣời có mức thu nhập dƣới 700.000/ ngƣời ở nông thôn và thu nhập dƣới 900.000/ngƣời ở thành thị [46]. Kết quả Điều tra y tế quốc gia năm 2012 ghi nhận có đến 81,5% số ngƣời thuộc nhóm hộ nghèo nhất sử dụng DVYT hoặc sổ/thẻ khám chữa bệnh (KCB) tại các trạm y tế (TYT) xã trong khi nhóm hộ giàu nhất chỉ có 75,3%. Khi bị ốm, số ngƣời nghèo đến TYT sử dụng DVYT để KCB là 33%, trong khi đó nhóm ngƣời giàu chỉ chiếm 7,6% trong tổng số những ngƣời sử dụng DVYT tại TYT xã; đối với điều trị nội trú có khoảng 67% ngƣời nghèo đến TYT xã và bệnh viện huyện sử dụng DVYT (ở nhóm ngƣời giàu chỉ chiếm 16%), có đến 78% ngƣời giàu đến điều trị nội trú ở bệnh viện tỉnh và trung ƣơng [54].
Thực tế cho thấy, nhu cầu KCB của ngƣời nghèo lớn nhƣng lại khó tiếp cận các DVYT hơn so với các nhóm đối tƣợng khác [50]. Tự điều trị hiện vẫn chiếm phần lớn trong hành vi tìm kiếm dịch vụ khám chữa bệnh khi bị ốm trong khi hỗ trợ ngƣời nghèo trong khám chữa bệnh tại các CSYT công lập luôn là nhiệm vụ ƣu tiên của Chính phủ. Nhà nƣớc đã có chủ trƣơng cấp BHYT cho ngƣời thuộc hộ nghèo theo quy định hiện hành về chuẩn hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, những ngƣời đƣợc hƣởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Ngoài ra thực hiện hỗ trợ một phần viện phí cho các trƣờng hợp mắc các bệnh nặng gặp khó khăn do chi phí cao mà không có khả năng chi trả viện phí [47, 48].
Kết quả báo cáo hoạt động KCB tỉnh Bắc Giang năm 2018 cho thấy số lƣợng ngƣời nghèo tại huyện Hiệp Hòa không thay đổi nhƣng số lƣợt KCB tại một số bệnh viện tại tỉnh Bắc Giang của ngƣời nghèo giảm dần qua các năm từ năm 2016 đến năm 2018; số lƣợt sử dụng DVYT của ngƣời nghèo tại bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh giảm 50% và BVĐK Sơn Động cũng giảm 20%. Tại huyện Hiệp Hòa thuộc tỉnh Bắc Giang tính đến 31/12/2017 tỷ lệ bao phủ BHYT trên địa bàn huyện là 76%. 2 Ngƣời dân thuộc hộ gia đình nghèo đƣợc đăng ký KCB ban đầu tại các cơ sở y tế (CSYT) công lập. Theo kết quả rà soát, thống kê hộ nghèo năm 2018 huyện Hiệp Hòa có 3447 hộ nghèo (khoảng 13.788 ngƣời) chiếm 6,11% số hộ trong huyện [33].
Theo thống kê năm 2018 số lƣợt ngƣời nghèo có sử dụng DVYT tại BVĐK huyện là 317 lƣợt khám. Tần suất KCB/thẻ/năm chƣa đƣợc 1 lần, thấp hơn so với tần suất của huyện Sơn Động (tỉnh Bắc Giang) 4,4 lần, thấp hơn so với tần suất của huyện Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) khoảng 3,4 và thấp hơn tần suất chung của toàn tỉnh Bắc Giang 1,2 [39]. Thăm dò ý kiến của lãnh đạo BVĐK huyện và một số ngƣời nghèo cho thấy rằng tỷ lệ ngƣời nghèo khi đau ốm sử dụng DVYT tại các CSYT công lập khoảng 85% và còn một tỷ lệ không nhỏ ngƣời nghèo không sử dụng DVYT tại các CSYT công lập [51]. Theo đó lý do không sử dụng DVYT tại các CSYT công lập khi đau ốm của ngƣời nghèo cũng chƣa đƣợc có câu trả lời thỏa đáng.
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng DVYT nhƣng còn rất ít các nghiên cứu về đối tƣợng là ngƣời nghèo – là những đối tƣợng nhạy cảm, yếu thế, có thu nhập thấp trong xã hội. Qua nhiều năm thực hiện tại địa phƣơng vẫn chƣa có nghiên cứu khoa học nào về thực trạng và việc sử dụng DVYT của ngƣời nghèo. Nghiên cứu đã lựa chọn thực hiện đề tài tại huyện Hiệp Hòa là một huyện có tỷ lệ ngƣời nghèo gần bằng tỷ lệ ngƣời nghèo trung bình của cả tỉnh (6,13%) [39] và có tỷ lệ sử dụng DVYT của ngƣời nghèo tại các CSYT công lập thấp hơn so với huyện khác và toàn tỉnh. Với câu hỏi đặt ra là thực trạng sử dụng DVYT của ngƣời nghèo nhƣ thế nào? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến việc sử dụng DVYT của ngƣời nghèo? Để trả lời câu hỏi trên cần tìm hiểu thực trạng ngƣời nghèo sử dụng DVYT tại địa phƣơng? Họ sử dụng DVYT nhƣ thế nào? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến việc sử dụng DVYT của ngƣời nghèo? Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế người nghèo bị ốm trong 4 tuần qua tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ y tế của ngƣời nghèo bị ốm trong vòng 4 tuần qua tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019. Phân tích một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế của ngƣời nghèo trong vòng 4 tuần qua tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang năm 2019. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm người nghèo và cách phân loại người nghèo Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí là có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên [36]. Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí là có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên [36]. Theo quyết định của thủ tƣớng Chính phủ tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 05 dịch vụ: y tế; giáo dục; nhà ở; nƣớc sạch và vệ sinh; thông tin. Các chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 10 chỉ số: tiếp cận các DVYT; BHYT; trình độ giáo dục của ngƣời lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lƣợng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời; nguồn nƣớc sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin [46].
Quyết định về khám chữa bệnh cho người nghèo Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg của thủ tƣớng chính phủ về khám, chữa bệnh cho ngƣời nghèo đã sửa đổi và bổ sung định số 139/2002/QĐ-TTg quy định về KCB cho ngƣời nghèo. Đối tượng được hưởng chế độ hỗ trợ khám, chữa bệnh: Những ngƣời thuộc các hộ nghèo theo quy định hiện hành của Thủ tƣớng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo; đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở xã, phƣờng, thị trấn thuộc vùng khó khăn theo quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 5 tháng 3 năm 2007 của Thủ tƣớng Chính phủ; ngƣời thuộc diện đƣợc hƣởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật và ngƣời đang đƣợc nuôi dƣỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nƣớc; ngƣời mắc bệnh ung thƣ, chạy thận nhân tạo, mổ tim hoặc các bệnh khác gặp khó khăn do chi phí quá cao mà các đối tƣợng này không có đủ khả năng chi trả viện phí. Hồ sơ hỗ trợ KCB Đối với đối tƣợng đƣợc hỗ trợ hồ sơ gồm: đơn đề nghị hỗ trợ chi phí KCB (theo mẫu có sẵn); bản sao thẻ BHYT còn giá trị sử dụng, trƣờng hợp chƣa đƣợc cấp thẻ BHYT thì sử dụng một trong các giấy tờ sau: giấy xác nhận là hộ nghèo hoặc giấy chứng nhận là ngƣời dân tộc thiểu số đang sinh sống tại xã/phƣờng/thị trấn thuộc vùng khó khăn theo quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg, giấy xác nhận ngƣời thuộc diện đƣợc hƣởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định hoặc giấy xác nhận của cơ sở bảo trợ xã hội là đối tƣợng đang đƣợc nuôi dƣỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nƣớc; bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân có ảnh, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, giấy chuyển viện, giấy ra viện. Đối với bệnh viện thực hiện hỗ trợ chi phí KCB hồ sơ gồm: hồ sơ do đối tƣợng đƣợc hỗ trợ cung cấp theo quy định, lệnh điều xe và hóa đơn tiền xe, vé cầu, vé đƣờng bộ, bảng kê chi tiết hỗ trợ chi phí KCB.
Các chế độ hỗ trợ Hỗ trợ tiền ăn cho các đối tƣợng thuộc hộ nghèo và đồng bào dân thiểu số đang sống tại các vùng khó khăn (quyết định số 30/2007/QĐ-TTg) theo Quyết định số 139/2002/QĐ-TTG khi điều trị nội trú tại các cơ sở y tế của nhà nƣớc từ tuyến huyện trở lên với mức tối thiểu 3% mức lƣơng tối thiểu chung/ngƣời/bệnh/này. Hỗ trợ tiền đi lại từ nhà đến bệnh viện, từ bệnh viện về nhà và chuyển viện theo quyết định số 139/2002/QĐ-TTg khi điều trị nội trú tại các cơ sở y tế nhà nƣớc từ 6 tuyến Huyện trở lên, các trƣờng hợp cấp cứu, tử vong hoặc bệnh quá nặng và ngƣời nhà có nguyện vọng đƣa về nhà nhƣ không đƣợc BHYT hỗ trợ. - Trƣờng hợp sử dụng phƣơng tiện vận chuyển của cơ sở y tế Nhà nƣớc: Thanh toán phí vận chuyển 2 chiều bằng 0,2 lit xăng/km và các phí cầu, phà, đƣờng bộ. - Trƣờng hợp không sử dụng phƣơng tiện vận chuyển của cơ sở y tế Nhà nƣớc: Thanh toán chi phí vận chuyển một chiều cho ngƣời bệnh theo mức 0,2 lit xăng/km.
Cơ sở y tế chỉ định chuyển bệnh nhân thanh toán phí vận chuyển cho ngƣời bệnh, sau đó thanh toán với Quỹ KCB cho ngƣời nghèo. Hỗ trợ một phần chi phí KCB cho ngƣời thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các vùng khó khăn, ngƣời thuộc diện đƣợc hƣởng trợ cấp xã hội hàng tháng và ngƣời đang đƣợc nuôi dƣỡng tại các cơ sở bảo trợ của nhà nƣớc phải đồng chi trả theo quy định của Luật BHYT và các văn bản hƣớng dẫn Luật đối với ngƣời bệnh phải đồng chi trả từ 100.