Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống y tế hiện đại, công tác điều dưỡng đóng vai trò nòng cốt quyết định chất lượng điều trị và mức độ hài lòng của người bệnh. Tại Việt Nam, sự ra đời của Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y tế đã đánh dấu bước chuyển mình quan trọng, khẳng định nguyên tắc lấy người bệnh làm trung tâm và yêu cầu cung cấp dịch vụ chăm sóc toàn diện, liên tục và an toàn. Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ mô hình chăm sóc phân công theo công việc truyền thống sang mô hình chăm sóc toàn diện đang đối mặt với nhiều thách thức về định biên nhân lực và năng lực chuyên môn.

Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế, với quy mô 700 giường bệnh kế hoạch và đội ngũ 681 cán bộ viên chức. Năm 2010, cơ sở y tế này tiếp nhận 154.761 lượt khám và điều trị nội trú cho hơn 36.000 người bệnh. Dù đã tiên phong triển khai mô hình chăm sóc theo đội từ năm 1998 và nhân rộng toàn viện từ năm 2005 tại 15 khoa lâm sàng, hoạt động chăm sóc thực tế vẫn còn bộc lộ những điểm nghẽn trong quản lý, giám sát và phân công công việc.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả cách thức tổ chức chăm sóc theo đội, đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng viên và xác định các yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2011. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn sâu sắc cho công tác quản trị bệnh viện, cung cấp hệ thống chỉ số định lượng về năng lực thực hành và đề xuất giải pháp tối ưu hóa nguồn nhân lực y tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết nhu cầu cơ bản của Virginia Henderson năm 1960 và nguyên lý chăm sóc của Florence Nightingale năm 1860. Theo Virginia Henderson, chức năng đặc thù của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc hồi phục sức khỏe mà người bệnh có thể tự thực hiện nếu có đủ thể lực, ý chí và kiến thức, từ đó giúp người bệnh sớm tái lập khả năng độc lập.

Bên cạnh đó, mô hình điều dưỡng chăm sóc theo đội do Kron khởi xướng năm 1978 đóng vai trò là khung lý thuyết quản trị chủ đạo. Mô hình này vận hành dựa trên sự phối hợp đa ngành giữa bác sĩ, điều dưỡng đội trưởng, điều dưỡng chăm sóc, hộ lý, kỹ thuật viên phục hồi chức năng và có sự tham gia của người nhà người bệnh. Công tác chăm sóc được phân tầng theo ba chức năng nghề nghiệp gồm: chức năng độc lập, chức năng phụ thuộc và chức năng phối hợp. Tình trạng của người bệnh được phân chia thành 3 cấp độ chăm sóc: cấp I dành cho người bệnh nặng nguy kịch cần theo dõi liên tục, cấp II dành cho người bệnh hạn chế vận động cần hỗ trợ một phần, và cấp III dành cho người bệnh có khả năng tự chăm sóc dưới sự hướng dẫn của nhân viên y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế dịch tễ học mô tả cắt ngang, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định lượng và định tính, được triển khai từ tháng 01 đến tháng 09 năm 2011 tại 15 khoa lâm sàng của Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí.

Cỡ mẫu định lượng sử dụng phương pháp chọn mẫu chỉ định toàn bộ đối với nhân viên y tế gồm 119 điều dưỡng viên và 33 điều dưỡng đội trưởng thuộc 33 đội chăm sóc. Đối với đối tượng phục vụ, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn thông qua rút hồ sơ bệnh án để chọn 66 người bệnh và bốc thăm ngẫu nhiên chọn 33 người nhà người bệnh trực tiếp chăm sóc. Nghiên cứu định tính thực hiện phỏng vấn sâu 10 cán bộ quản lý, bao gồm 4 lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các phòng chức năng và 6 điều dưỡng trưởng khoa đại diện cho các khối chuyên môn.

Dữ liệu định lượng được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1, sau đó xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0 nhằm xác định tần số, tỷ lệ phần trăm và kiểm định mối liên quan giữa các biến số nhân khẩu học với mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Dữ liệu định tính được ghi âm, gỡ băng và phân tích theo chủ đề nhằm giải thích sâu sắc các nguyên nhân quản lý nội tại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng tại 15 khoa lâm sàng ghi nhận tổng số 716 giường bệnh thực kê do 33 đội chăm sóc phụ trách. Tỷ lệ nhân lực điều dưỡng trên giường bệnh đạt mức trung bình 1/3,87 và tỷ lệ bác sĩ trên điều dưỡng viên là 1/1,85. Tỷ lệ tổng số nhân viên y tế trên giường bệnh chỉ đạt 0,46, phản ánh tình trạng quá tải nhân lực tại các khối lâm sàng.

Về cơ cấu nhân sự, đội ngũ điều dưỡng viên trực tiếp có 92,4% là nữ giới, 40,3% ở độ tuổi dưới 30 và 61,3% có trình độ chuyên môn trung cấp. Trong khi đó, nhóm điều dưỡng đội trưởng có 42,45% đạt trình độ đại học, 33,35% đạt trình độ cao đẳng, nhưng có tới 81,8% mới đảm nhận vị trí quản lý đội dưới 5 năm.

Về khả năng thực hiện kỹ năng chuyên môn của điều dưỡng viên:

  • Thực hiện y lệnh dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc đạt tỷ lệ cao nhất với 99,2% thực hiện thường xuyên, 70,6% cảm thấy rất tự tin và 78,8% điều dưỡng đội trưởng đánh giá đạt mức rất tốt.
  • Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản đạt 98,3% thường xuyên và đón tiếp người bệnh đạt 97,5% thường xuyên.
  • Kỹ năng rửa tay thường quy được 95,8% điều dưỡng viên duy trì thường xuyên và 68,9% khẳng định rất tự tin khi thực hiện.
  • Ngược lại, nhiệm vụ chăm sóc phục hồi chức năng chỉ có 63,0% điều dưỡng viên thực hiện thường xuyên, 34,5% không thường xuyên và 2,5% hoàn toàn không thực hiện.
  • Nhiệm vụ chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh đạt tỷ lệ thực hiện thường xuyên thấp nhất với 54,6%, có tới 45,4% thực hiện không thường xuyên và chỉ 37,0% cảm thấy rất tự tin.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố kỹ năng cho thấy điều dưỡng viên thực hiện rất thuần thục các can thiệp mang tính phụ thuộc y lệnh như tiêm truyền, phát thuốc và thủ thuật chuyên môn. Tuy nhiên, các nhiệm vụ thể hiện chức năng độc lập như chăm sóc vệ sinh cá nhân và phục hồi chức năng lại bị xem nhẹ. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ tình trạng thiếu hụt nhân lực khi một điều dưỡng phải bao quát gần 4 giường bệnh, kết hợp với khối lượng hồ sơ sổ sách hành chính nặng nề khiến họ phải chuyển giao việc chăm sóc thể chất cơ bản cho người nhà người bệnh.

Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Bùi Văn Thắng năm 2010 tại Bệnh viện Bạch Mai, khi ghi nhận 84,1% điều dưỡng có trình độ trung cấp và tình trạng quá tải do y lệnh thuốc làm giảm thời gian chăm sóc trực tiếp. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ly tại tỉnh Hải Dương cũng chỉ ra tỷ lệ bác sĩ trên điều dưỡng ở mức 1,6/1 gây cản trở lớn cho việc triển khai quy trình chăm sóc toàn diện.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ thanh ghép so sánh giữa mức độ thực hiện thường xuyên và mức độ tự tin của điều dưỡng viên, kết hợp với biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu trình độ đào tạo. Việc trình bày dữ liệu dạng ma trận tương quan giữa độ tuổi, thâm niên với hiệu suất công việc sẽ giúp nhà quản lý nhận diện chính xác các khoảng trống kỹ năng cần can thiệp đào tạo liên tục.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh:

  1. Tái cấu trúc và chuẩn hóa định biên nhân lực: Ban Giám đốc và Phòng Tổ chức cán bộ cần xây dựng kế hoạch tuyển dụng bổ sung để điều chỉnh tỷ lệ điều dưỡng trên giường bệnh từ mức 1/3,87 hiện tại xuống mục tiêu 1/2,5, đồng thời cân đối lại tỷ lệ bác sĩ trên điều dưỡng đạt chuẩn 1/2,0 tại tất cả các khoa lâm sàng trong lộ trình từ năm 2012 đến năm 2015.
  2. Nâng chuẩn trình độ và đào tạo liên tục: Phòng Điều dưỡng chủ trì xây dựng lộ trình chuẩn hóa chuyên môn, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ điều dưỡng có trình độ trung cấp từ 61,3% xuống dưới 30% và nâng tỷ lệ cử nhân đại học lên trên 40% trong giai đoạn 2012 - 2014 thông qua các chương trình đào tạo liên thông và tập huấn kỹ năng mềm.
  3. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật chăm sóc thể chất: Hội đồng Điều dưỡng bệnh viện cần ban hành bảng kiểm chuẩn hóa cho kỹ thuật chăm sóc vệ sinh cá nhân và phục hồi chức năng, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ thực hiện thường xuyên việc vệ sinh cá nhân từ 54,6% lên tối thiểu 85% trong vòng 12 tháng, giao Điều dưỡng trưởng 15 khoa lâm sàng trực tiếp giám sát hàng ngày.
  4. Tăng cường năng lực quản lý đội và truyền thông nội bộ: Phòng Kế hoạch tổng hợp phối hợp với Phòng Điều dưỡng tổ chức các khóa tập huấn quản trị cho 100% điều dưỡng đội trưởng trong 6 tháng đầu năm 2012, đồng thời triển khai hệ thống bảng tên và quy chế giao tiếp để 100% người bệnh và người nhà nhận diện chính xác điều dưỡng phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Ban Giám đốc và Trưởng phòng Điều dưỡng các bệnh viện đa khoa: Cung cấp khung phương pháp luận và các chỉ số thực chứng để đánh giá, cải tiến và tái thiết lập mô hình chăm sóc theo đội phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và nhân lực thực tế.
  2. Giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý y tế, Quản lý bệnh viện: Cung cấp một case study điển hình về thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng trong đánh giá chất lượng dịch vụ điều dưỡng tại cơ sở khám chữa bệnh công lập.
  3. Điều dưỡng trưởng khoa và điều dưỡng viên lâm sàng: Hỗ trợ việc tự đánh giá năng lực, nhận diện các điểm yếu trong thực hành chức năng độc lập như giáo dục sức khỏe, chăm sóc phục hồi chức năng và kỹ năng giao tiếp với người bệnh.
  4. Các chuyên viên hoạch định chính sách tại Cục Quản lý Khám chữa bệnh: Cung cấp cơ sở thực tiễn về khoảng cách giữa quy định chính sách tại Thông tư số 07/2011/TT-BYT với việc thực thi định biên nhân lực tại các bệnh viện hạng I tuyến tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt cốt lõi của mô hình đội chăm sóc tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí là gì? Khác với mô hình đội kinh điển trên thế giới vốn có sự tham gia của dược sĩ lâm sàng và chuyên gia tâm lý, mô hình tại bệnh viện đưa người nhà người bệnh trở thành một thành viên chính thức của đội. Người nhà được điều dưỡng viên hướng dẫn, giám sát để cùng thực hiện các hỗ trợ chăm sóc cơ bản cho người bệnh cấp II và cấp III.

Tại sao tỷ lệ điều dưỡng thực hiện chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh chỉ đạt 54,6%? Nguyên nhân chủ yếu do tình trạng quá tải công việc, định biên điều dưỡng trên giường bệnh còn thấp ở mức 1/3,87 và áp lực thực hiện y lệnh thuốc chiếm phần lớn thời gian. Do đó, điều dưỡng viên có xu hướng ủy quyền việc vệ sinh thân thể cho người nhà người bệnh thực hiện thay vì trực tiếp đảm nhận.

Cơ cấu trình độ chuyên môn của điều dưỡng viên trong nghiên cứu có đặc điểm gì? Đội ngũ điều dưỡng trực tiếp chăm sóc có tỷ lệ trình độ trung cấp chiếm đa số với 61,3%, cao đẳng chiếm 21,85% và đại học chỉ đạt 16,85%. Ngược lại, nhóm điều dưỡng đội trưởng có học vấn cao hơn với 42,45% trình độ đại học và 33,35% trình độ cao đẳng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn để phân công và điều phối đội.

Yếu tố nhân khẩu học nào ảnh hưởng rõ nét nhất đến năng lực của điều dưỡng viên? Kết quả kiểm định thống kê cho thấy độ tuổi, giới tính, thâm niên công tác và trình độ học vấn có mối liên quan mật thiết đến mức độ tự tin và chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Các điều dưỡng có thâm niên trên 5 năm và trình độ từ cao đẳng trở lên thể hiện sự tự tin vượt trội trong theo dõi diễn biến và xử lý tình huống lâm sàng.

Làm thế nào để nâng cao tỷ lệ người bệnh nhận diện được điều dưỡng chăm sóc mình? Bệnh viện cần chuẩn hóa quy trình đón tiếp đầu giường, bắt buộc điều dưỡng viên giới thiệu tên và vai trò khi tiếp nhận người bệnh, đồng thời công khai bảng phân công điều dưỡng phụ trách tại từng buồng bệnh để người bệnh và người nhà dễ dàng theo dõi và phối hợp điều trị.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện mô hình chăm sóc theo đội tại 15 khoa lâm sàng của bệnh viện đa khoa hạng I quy mô 700 giường bệnh thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng.
  • Khẳng định năng lực thực hành rất tốt của điều dưỡng viên ở các nhiệm vụ kỹ thuật và y lệnh thuốc với tỷ lệ thực hiện thường xuyên đạt 99,2% và mức độ tự tin đạt 70,6%.
  • Nhận diện rõ hạn chế trong thực hành chức năng chăm sóc độc lập khi tỷ lệ thực hiện thường xuyên chăm sóc vệ sinh cá nhân chỉ đạt 54,6% và chăm sóc phục hồi chức năng đạt 63,0%.
  • Chỉ ra rào cản lớn về nguồn lực y tế với tỷ lệ nhân viên y tế trên giường bệnh ở mức thấp là 0,46 và tỷ lệ điều dưỡng có trình độ trung cấp còn chiếm tới 61,3%.
  • Xác lập cơ sở khoa học vững chắc giúp các nhà quản lý y tế xây dựng kế hoạch chuẩn hóa năng lực điều dưỡng, cải tiến quy trình phân công và nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh toàn diện.

Hệ thống y tế và các nhà quản trị bệnh viện cần khẩn trương ứng dụng các khuyến nghị từ nghiên cứu, chủ động tái cơ cấu nhân lực và đẩy mạnh đào tạo chuẩn hóa để hiện thực hóa mục tiêu chăm sóc toàn diện, an toàn và nâng tầm chất lượng khám chữa bệnh.