CHƯƠNG 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm CO' bản, định nghĩa về điều dưỡng Tổ chức Y tế Thể giới đã định nghĩa: Sức khoẻ là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật [7]. Nhu cầu cơ bản của con người đó là những nhu cầu tối cần thiết đế duy trì một cuộc sống bình thường. Nhu cầu cơ bản của con người được chia thành bốn nhóm lả: Nhu cầu về thể chất, nhu cầu về xã hội, nhu cầu về tình cảm và nhu cầu về trí tuệ [16].
Điều dưỡng là một nghề chuyên nghiệp (Nursing is a profession). Y học ngày càng phát triển đòi hỏi phải nâng cao kiến thức và trình độ chuyên nghiệp của điều dưỡng. Điều dưỡng chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh về the chất và tinh thần [7]. Điều dưỡng là một ngành học và khoa học về chăm sóc (Nursing is a discipline and a Caring Science).
Do đặc thù của nghề điều dưỡng là làm các công việc chăm sóc từ đơn giản nhất đen những công việc phức tạp, do đó ngành điều dưỡng gồm nhiều cấp trình độ để đáp ứng nhu cầu hành nghề và yêu cầu chăm sóc sức khoẻ [7], Có rất nhiều định nghĩa về điều dưỡng, cho đến nay chưa có sự thông nhât vê một định nghĩa chung, dưới đây là một số định nghĩa được đa số các nước công nhận: Định nghĩa của Florent Nightingale 1860: Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh đế hô trợ sự hồi phục của họ [7]. Định nghĩa của Virginia Handerson I960: “Chức năng duy nhất của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc hồi phục sức khoẻ của người bệnh hoặc người khoẻ, hoặc cho cái chết được thanh thản mà môi cá thế có thế tự thực hiện nếu họ có sức khoẻ, ý chỉ và kiến thức. Giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tot ” [7]. 6 Định nghĩa của Hội điều dưỡng Mỹ 1965: Điều dưỡng là một nghê hô trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hôi phục và nâng cao sức khoẻ.
Định nghĩa này là cơ sở để đưa ra quy trình điều dưỡng mà hiện nay được áp dụng tại rất nhiều nước trên thế giới [7]. Định nghĩa điều dưỡng Việt Nam: Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1999 định nghĩa “T tá là người có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc người bệnh theo y lệnh bác ỵỹ”. Chúng ta cần có định nghĩa mới về điều dưỡng để phản ánh đầy đủ vị trí và vai trò của người điều dưỡng và nghề điều dưỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ hiện nay [7], Theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV. ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội vụ thì: Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế [4], Đội ngũ điều dưỡng được dựa trên triết lý trong đó các nhóm nhân viên chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp làm việc cùng nhau để xác định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giả toàn diện khách hàng là trung tâm chăm sóc, Khái niệm chính là một nhóm làm việc cùng nhau hướng tới một mục tiêu chung, cung cấp chất lượng chăm sóc điều dưỡng toàn diện (Kron 1978) [23], 1.
Lịch sử phát triển ngành điều dưỡng thế giói và Việt Nam 1. Lịch sử phát triển ngành điều dưỡng thế giới Trên thế giới, điều dưỡng là lực lượng đông nhất trong ngành y tế, do đó điều dưỡng có tiềm năng rất lớn trong sứ mệnh chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trên toàn the giới. Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng và có ảnh hưởng to lớn trong các hệ thống chăm sóc sức khoẻ, trong việc xây dựng các chính sách chăm sóc sức khoẻ, nâng cao sức khoẻ và dự phòng cũng như trong việc chăm sóc những người ốm và phục hồi chức năng. Từ thời xa xưa do chưa hiểu biết, con người tin vào thần linh, thượng đế, khi có bệnh họ mời pháp sư đến, vừa điều trị vừa cầu kinh.
Các đền miếu được xây dựng để thờ thánh thần và dần dần trở thành những trung tâm chăm sóc và điều trị bệnh nhân, Tại đây, các pháp sư điều trị bệnh và các nhóm nữ vừa 7 giúp lễ vừa phụ giúp chăm sóc bệnh nhân từ đó hình thành mối liên kết Y khoa- Điều dưỡng và Tôn giáo. Thời kỳ viễn chinh ở Châu Âu, bệnh viện được xây dựng để chăm sóc số lượng lớn những người hành hương bị đau ốm có những người tham gia việc chăm sóc sức khoẻ cho tất cả mọi người. Nghề điều dưỡng từ đó trở thành nghề được coi trọng [15]. Một phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành điều dưỡng đó là Florence Nightingale (1820-1910), người phụ nữ được các thương binh đặt cho bà danh hiệu “Nữ công tước với cây đèn " và cũng được mọi người gọi là “Thiên thần trong bệnh viện”.
Năm 30 tuổi, bà đã trở thành người điều hành và tổ chức chăm sóc sức khoẻ cho những người nghèo khổ tại thủ đô nước Anh, sáp xếp hợp lý và đưa ra các tiêu chuẩn cho công tác điều dưỡng [13]. Florence Nightingale đã lập hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành lập trường đào tạo điều dưỡng đầu tiên trên thế giới ở nước Anh vào năm 1860. Trường Điều dưỡng Nightingale cùng với chương trình đào tạo một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng không chì ở Vương quốc Anh mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới. Đe tưởng nhớ công lao của bà và khắng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Florence Nightingale đã dày công xây dựng.
Hội đồng Điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày 12 tháng 5 hằng năm, là ngày sinh của Florence Nightingale, làm ngày Điều dưỡng quốc tế. Bà đã trở thành người mẹ tinh thần của ngành Điều dưỡng thế giới [15]. Ngày nay trên thế giới, ngành điều dưỡng đã được xếp là một ngành riêng biệt ngang hàng với các ngành nghề khác và có nhiều trình độ điều dưỡng khác nhau: Trung cẩp, cao đẳng, đại học vả trên đại học. Nhiều nước trên thế giới có hệ thống điều dưỡng phát triển mạnh từ rất sớm như: Thuỵ Điển, Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Thái Lan.
Nhiều cán bộ điều dưỡng đã có bằng tiến sỹ, thạc sỹ và nhiều công trình khoa học mà các giảo sư, tiến sỹ hệ điều trị phải coi trọng. Nhân lực điều dưỡng được tăng cường đào tạo, bổ sung nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh tại các cơ sở y tể. Lịch sử phát triển, hệ thống tổ chức ngành điều dưỡng Việt Nam Trong lịch sử dân tộc ta, y tế là một trong những ngành có bề dầy lịch sử lâu đời nhất. Y tế gắn liền với nền văn hiến dân tộc và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trong quá trình phát triển của y học nước ta, điều dưỡng đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong ngành y tế, là một trụ cột quan trọng trong ngành y tế và ngày nay đã trở thành một ngành học với nhiều cấp đào tạo: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học. Trong suốt chặng đường phát triến, ngành điều dưỡng Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Song các thế hệ điều dưỡng đi trước đã kiên trì phân đấu và từng bước dưa ngành điều dưỡng đi lên [14J. Quá trình phát triển của ngành điều dưỡng qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc và của ngành y tể, có thể điểm qua như sau: Cũng như các nơi trên thế giới, từ thời xa xưa các bà mẹ Việt Nam đã chăm sóc nuôi dưỡng con cái và gia đình mình.
Bên cạnh những kinh nghiệm chăm sóc gia đình, các bà đã được truyền lại các kinh nghiệm dân gian của các lương y trong việc chăm sóc người bệnh. Lịch sử nền y học của dân tộc ghi rõ phương pháp dưỡng sinh, đã được áp dụng trong việc điều trị và chăm sóc người bệnh. Hai danh y nôi tiếng thời xưa của dân tộc ta là Hải Thượng Lãn Ông và Tuệ Tĩnh đã để lại cho nền y học nước ta một gia sản có giá trị lớn về y đức và y thuật Việt Nam [15]. Thời kỳ pháp thuộc, sự có mặt của các thầy thuốc người Pháp vào cuối the kỷ XIX đã thay thế các nhà truyền giáo và người Pháp đã bắt đầu xây dựng bệnh viện và lập hệ thống y tế đế bảo vệ sức khoẻ cho quân đội viễn chinh Pháp và kiều dân Pháp.
Năm 1901 mở lớp nam y tá đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Quán nơi điều trị bệnh nhân tâm thần và bệnh phong. Năm 1910 mở lớp đào tạo ỵ tá chung tại Bệnh viện Chợ Rầy. Năm 1937, Hội Chữ thập đỏ Pháp tuyển sinh lớp nữ y tá đầu tiên tại Sài Gòn. Cách mạng tháng 8 thành công đã mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử nước ta nói chung và ngành Y tế Việt Nam nói riêng.
Từ năm 1947, các khu y tế bắt đầu đào tạo y tá xã, nữ hộ sinh thôn bản với thời gian đào tạo từ 1 đến 3 tháng cho học sinh có trình độ văn hoá hểt cấp 1. Năm 1949, trường Y tá Liên khu 1 mở lớp đào tạo y tá đầu tiên, lớp vinh dự được Bác Hồ gửi thư động viên, Bác viết: “Y tá chẳng 9 những là nghề nghiệp, mà lại là một nghĩa vụ. Người y tá chẳng những giúp chữa bệnh mà còn phải phổ biến vệ sinh. Việc giữ gìn và bôi dưỡng sức khoè cho dân tộc, ngiỉời y tá phải gánh một phần quan trọng.
Vì vậy, y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ kháng kiện của giong nòi" [14], Ở miền Bắc, ngày 21 tháng 11 năm 1963, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra quyết định về chức vụ Y tá trưởng ở các cơ sở điều trị, bệnh viện, viện điều dưỡng, trại phong, bệnh xá từ 30 giường bệnh trở lên. Năm 1970, Hội Điều dưỡng miền Nam được thành lập, bà Lâm Thị Hạ là Chánh sự vụ Sở Điều dưỡng đầu tiên kiêm Chủ tịch Hội [15]. Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được hoà bình thống nhất, Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong cả nước. Từ đó nghề điều dưỡng bắt đầu có tiếng nói chung giữa hai miền Nam, Bấc.