Mở đầu Chương 2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận về hình ảnh điểm đến du lịch và khái quát du lịch hồ Ba Bể Chương 3. Phương pháp nghiên cứu đề tài Chương 4. Kết quả nghiên cứu, bàn luận và khuyến nghị Kết luận Chương 2.
TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HÌNH ANH DIEM DEN DU LICH VÀ KHÁI QUÁT DU LICH HO BA BE 2. Tổng quan nghiên cứu Nghiên cứu về hình ảnh điểm đến là một lĩnh vực lâu đời, phd biến trong hơn 30 năm qua và ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu du lịch quan tâm; điều này được thể hiện ở sự gia tăng số lượng các công trình nghiên cứu về chủ dé này. Gallarza và cộng sự (2002) [30] đã trình bay bài đánh giá và thảo luận về khái niệm và đo lường hình ảnh điểm đến từ năm 1971 đến năm 1999; trong khi Pike (2002) [18] đã xem xét khoảng 142 nghiên cứu phân tích về hình ảnh điểm đến từ năm 1973 đến năm 2000; Aziz. (2011) [15] tổng quan và tóm tắt các nghiên cứu một cách có chọn lọc về hình ảnh điểm du lịch đến từ năm 1974 - 2008.
Các công trình nghiên cứu về hình ảnh điểm đến chủ yếu được phân ra làm 2 loại: Khái niệm và thực nghiệm. Trong tổng số các tài liệu về hình ảnh điểm đến, ước tính có khoảng đưới 30% các công trình thuộc về nghiên cứu khái niệm, với những chủ đề tương tự như nhau như: trình bày và thảo luận về các loại hình ảnh điểm đến (Bennett và Koudelova, 2001; Bramwell và Rawding, 1996; Choi và cộng sự, 2007; Gartner 1993; MacKay và Couldwell, 2004; Ryan và Cave, 2005; Prebensen, 2007; White, 2004) hoặc khái niệm hóa hình ảnh điểm đến (Dann, 1996; Gallarza và cộng sự, 2002; Selby và Morgan, 1996; Sirgy va Su, 2000; Xiao va Mair, 2006) [15, tr. Da phan các nghiên cứu còn lại là nghiên cứu thực nghiệm va cũng phan lớn chúng được thiết kế dé đo lường hình ảnh điểm đến (đo lường hình anh nhận thức, hình ảnh cảm xúc, hoặc cả hình ảnh nhận thức và hình ảnh cảm xúc). Những nghiên cứu trong ba thập kỷ qua đã chứng minh răng hình ảnh điểm đến là một khái niệm có giá trị trong việc lựa chọn điểm đến của khách du lịch.
Một số nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa hình ảnh điểm đến và sở thích hoặc ý định thăm viễng (Goodrich, 1978; Mayo, 1973; Hunt, 1975; Milman và Pizam, 1995; Scott, Schewe va Frederick, 1978); tìm hiéu tac động của chuyên thăm trước đó đối với hình anh điểm đến (Ahmed, 1991; Chon, 1990; Dann, 1996; Fakeye va Crompton, 1991; Fridgen, 1987; Hu và Ritchie, 1993; Milman va Pizam, 1995; Pearce, 1982; Phelps, 1986); xem xét mối quan hệ giữa vi trí địa lý và hình anh điểm đến trong nhận thức của khách du lịch (Ahmed, 1991; Crompton, 1979; Fakeye va Crompton, 1991; Hunt 1975; Scott và cộng sự, 1978). Những tac gia khác khác thì tap trung vào việc đo lường hình ảnh điểm đến (Echtner và Ritchie, 1993; Driscoll, Lawson và Niven, 1994); nhận diện các thành phần của điểm đến (Dann, 1996; MacKay và Fesenmaler, 1997); nhận diện các yếu tố bao trùm (Baloglu và Brinberg, 1997; Walmsley và Jenkins, 1993); kiêm tra những tác động của yếu tô thời gian đến sự thay đôi hình ảnh điểm đến (Gartner, 1986; Gartner va Hunt, 1987); tìm hiểu sự khác biệt giữa hình ảnh du lịch (nhu cầu) và những gì được dự báo bởi các điểm đến (Stabler, 1990) [18. Về khái niệm: Một số nghiên cứu dé xuất hình ảnh điểm đến như là: “sự thé hiện tất cả kiến thức, ấn tượng, định kiến va suy nghĩ cảm xúc của một cá nhân hoặc một nhóm về một đối tượng hoặc địa điểm cụ thể” [38, tr. 42], “tổng hợp của niềm tin, ý tưởng và an tượng mà mọi người có về một địa điểm hoặc điểm đến” [25, tr.18] hoặc “hiện tượng tri giác được hình thành thông qua khách du lịch” [25.19]; “hình ảnh điểm đến là một ấn tượng tổng thể, được hình thành do đánh giá các thuộc tính riêng lẻ có thể chứa cả nội dung nhận thức và cảm xúc” [27, tr.40]; và cũng là một “tập hợp các niềm tin và ấn tượng dựa trên quá trình xử lý thông tin từ nhiều nguồn khác nhau” [23, tr.
Về thành phần: Trong hầu hết các nghiên cứu du lịch, thành phần hình ảnh nhận thức thường đề cập đến các thuộc tính vật lý của một điểm đến trong khi thành phần hình ảnh tình cảm gồm phản ứng cảm xúc của cá nhân đối với địa điểm đó. Thành phan hình ảnh nhận thức của hình ảnh điểm đến được đo lường và xác định để hiểu mọi người ra quyết định lựa chọn điểm đến du lịch dựa trên những nhân tô nào (Alhemoud va Armstrong, 1996; Bonn và cộng sự, 2005; Chen va Hsu, 2000; Chen va Uysal, 2002; Chen va Tsai , 2006; Crompton 1979; Fallon va Schofield, 2007; Gartner, 1989; Goodrich, 1978; Hankinson, 2004; Ibrahim va Gill, 2005; Law và cộng sự, 2004; Leisen, 2001) [15, tr. Những nghiên cứu nay chỉ ra rằng thành phần nhận thức đại diện cho sy thé hiện của tri thức về các đặc điểm môi trường. Nhiều tác giả khác lại ủng hộ quan điểm rằng các thiết lập hình ảnh điểm đến có cả hình ảnh nhận thức và tình cảm (Burgess, 1978; Hanyu, 1993; Lynch, 1960; Russel và Pratt, 1980; Russel, Lewicka và Niit, 1989).
Thành phan nhận thức là kiến thức về các thuộc tính khách quan của điểm đến trong khi thành phan tình cảm là cảm xúc mà điểm đến mang lại (Genereux, Ward và Russel, 1983) [15, tr. Một số tác giả cho rằng đánh giá hình ảnh tình cảm phụ thuộc vào đánh giá hình ảnh nhận thức (Anand, Holbrook và Stephens, 1988; Burgess, 1978; Gartner, 1993; Lynch, 1960; Holbrook, 1978; Reibstein, Lovelock va Dobson, 1980; Russel va Pratt, 1980; Stern va Krakover, 1993) [18, tr. Sự phân biệt và hướng của mối quan hệ giữa các thành phần hình ảnh nhận thức và tình cảm đã được nhấn mạnh trong nhiều mô hình ra quyết định của người tiêu dùng và du lịch (Crompton và Ankomah, 1993; Mayo va Jarvis, 1981; Woodside và Lysonski, 1989) [18, tr. Ca đánh giá nhận thức và tình cảm đều tạo thành hình ảnh tổng thé của một địa điểm (Mazursky va Jacoby 1986, Stern và Krakover 1993) [18, tr.
Gartner tuyên bố rang nhận thức của moi người về các thuộc tính khác nhau trong một điểm đến sẽ tương tác dé tạo thành một hình ảnh tổng hợp hoặc tổng thể [31, tr. Ahmed lưu ý rằng một van dé quan trọng trong hình ảnh điểm đến là xác định mối quan hệ giữa hình anh tổng thé với các thành phần khác và khái niệm tổng thé có thé thuận lợi hoặc không thuận lợi [14, tr. Về nguồn thông tin: Vai trò của các nguồn thông tin trong sự hình thành hình ảnh điểm đến được nhắn mạnh trong mô hình của Fakeye và Crompton’s: “hình ảnh nhận thức được hình thành bởi các yếu tố bên ngoài bao gồm các nguồn thông tin khác nhau như các nỗ lực quảng bá về một điểm đến thông qua các phương tiện truyền thông, lời giới thiệu của bạn bé và người thân hoặc truyền miệng” [29, tr. Burgess (1978) đưa ra giả thuyết rằng loại, chất lượng và số lượng thông tin sẽ xác định loại hình ảnh có thể phát triển; Gartner (1993) cho rằng loại và số lượng nguồn thông tin nhận được ảnh hưởng đến sự hình thành hình ảnh nhận thức của hình ảnh điểm đến du lịch nhưng không ảnh hưởng đến hình ảnh cảm xúc [18, tr.
Về động lực tâm lý xã hội: Động lực thường được định nghĩa là các lực lượng tâm lý xã hội khiến một cá nhân có ý định lựa chọn và tham gia vào một hoạt động du lịch (Beard và Raghep 1983; Crandall 1980; Iso-Ahola 1982) [18, tr. Hình anh cua một điểm đến có liên quan nhiều đến các lợi ích du lịch được tìm kiếm (động cơ). Khách du lịch thường xác định hình ảnh của một điểm đến trước và sau chuyến thăm (Mill và Morrison, 1992). Trong quá trình lựa chon điểm đến, hình ảnh được hình thành liên quan đến các động cơ thúc đây một cách có ý thức hoặc vô thức (Moutinho, 1987); động cơ tâm lý của các điểm du lịch có ảnh hưởng đến hình ảnh của khách du lịch về điểm đến (Mayo và Jarvis, 1981); mối quan hệ giữa động cơ thúc đây và hình ảnh điểm đến nên được khám pha dé hiểu rõ hơn về hành vi của khách du lịch (Pearce, 1995) [18, tr.
Một số tác giả cho rằng động cơ có liên quan đến thành phần cảm xúc của hình ảnh và hình anh tình cảm của một cá nhân đối với điểm đến, ở một mức độ lón, bị ảnh hưởng bởi động lực (lợi ích tìm kiếm) từ trải nghiệm du lịch (Dann 1996; Gartner 1993; Walmsley và Jenkins 1993) [18, tr. Về sự chi phối của đặc điểm nhân khẩu học (bién nhân khẩu học): Hầu hết các mô hình nghiên cứu sự hình thành hình ảnh điểm đến và lựa chọn điểm đến có kết hợp các biến số nhân khẩu học như các đặc điểm thông thường của khách du lịch ảnh hưởng đến nhận thức về đối tượng và điểm đến (Friedmamn và Lessig 1986; Stabler 1990; Um và Crompton 1990; Woodside và Lysonski 1989) [18, tr. Các biến số như tuổi tác, học van, thu nhập, giới tính, nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân đều được cho là có ảnh hưởng đến nhận thức và cảm xúc; tuổi tác và trình độ học vấn dường như là những yêu tô quyết định chính đến nhận thức về hình ảnh điểm đến (Crompton 1990, Baloglu 1997) [18, tr. Walmsley và Jenkins đã nghiên cứu hình ảnh tình cảm của một số khu nghỉ dưỡng ở Bờ biển phía Bắc của New South Wales, Úc.
Nghiên cứu chỉ ra rằng hình anh tình cảm của một số khu nghỉ mát cho thấy sự khác biệt do giới tính và tuôi tác [49, tr. Baloglu đã kiểm tra các biến thé hình ảnh của Hoa Ky dựa trên các đặc điểm xã hội học của khách du lịch Tây Đức. Tác giả đã tìm thấy một vài khác biệt về hình ảnh do tuổi tác, tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp. Tuy nhiên, tuổi tác là biến số xã hội học quan trọng nhất [16, tr.
Husbands đã điều tra mối quan hệ giữa nhận thức về du lịch và các biên sô xã hội học và nhận thây răng nhận thức của người dân địa phương Livingstone, Zambia khác nhau đáng ké chi dựa trên các biến số tuổi và giáo dục [35, tr. Stern và Krakover đã chọn trình độ học vấn là một trong những đặc điểm quan trọng nhất và điều tra ảnh hưởng của trình độ học vấn của các cá nhân đến mối quan hệ giữa nhận thức, tình cảm và hình ảnh tổng thé [46, tr. Về đánh giá hình ảnh điểm dén: Echtner và Ritchie [28, tr.5-6] và Dan [26, tr.