Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tính hấp dẫn của điểm đến du lịch Hạ Long, Quảng Ninh Chương 2. Thiết kế và phương pháp nghiên cứu; Chương 3. Kết quả nghiên cứu Chương 4: Bàn luận và đề xuất giải pháp.
TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC YEU TO ANH HUONG DEN TÍNH HAP DAN CUA DIEM DEN DU LICH HA LONG, QUANG NINH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Việc nghiên cứu và thảo luận những vấn đề liên quan đến ĐĐDL đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các chuyên gia, các học gia, các cơ quan, trường, viện nghiên cứu, các cơ quan quan lý nhà nước về du lịch. Nhiều nghiên cứu về ĐĐDL ở nhiều góc độ khác nhau, theo các cách tiếp cận khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra răng: THD của điểm đến có ảnh hướng rất lớn đến tố quyết định lựa chọn điểm đến của KDL, năng lực cạnh tranh của DDDL, hình ảnh DDDL, thương hiệu của DDDL đó,.Việc tim kiếm và phát hiện những yếu tố ảnh hưởng đến THD của ĐĐDL chính là dé đề xuất những giải pháp phù hợp trong việc thu hút khách du lịch, xây dựng hình ảnh và tăng sức cạnh tranh cho điểm đến đó.
Trên cơ sở quá trình nghiên cứu, học viên đã tổng hợp những công trình nghiên cứu tiêu biểu về lĩnh vực này cả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu về tinh hấp dẫn của điểm đến du lịch Thuật ngữ “tính hap dẫn” được cho là bắt nguồn từ tiếng Tây Ban Nha “atrathere”, có xu hướng được hiểu “thu hút sự chú ý” (Gunn,1988). Một số nghiên cứu khác đã được thực hiện nhằm nghiên cứu THD của ĐĐDL trên cơ sở phân tích các thuộc tính của điểm đến (Gearing va cộng sự (1974), Ritchie và Zins (1978), Tang va Rochananond (1990). Trong khi một vai nghiên cứu khác đã tim hiểu THD của ĐĐDL dựa trên cảm xúc, niềm tin, quan điểm cá nhân, khả năng mang lại sự hài lòng liên quan đến kỳ nghỉ của họ, Hu và Richie (1993).
Thêm nữa, một số nghiên cứu nghiên cứu dựa trên cơ sở phân tích khoảng cách giữa kỳ vọng và mức độ hài lòng của du khách với các thuộc tính khác nhau, Cho (1998), Chaudhary (2000), Gallarza và cộng sự (2002). Vì vậy, nếu THD của một ĐĐDL sẽ được đánh giá thông qua sự hài lòng một chuyến du lịch với những thuộc tính: “Phản ánh cảm nhận, niềm tin, ý kiến của mỗi cá nhân có được về khả năng làm hài lòng cá nhân đó của mỗi điểm đến ” (Hu,1993). Đồng tình với quan điểm này, Leiper (1990), Vengesayi, Mavondo & Reisinger (2009) cho rằng THD của DDDL là khả năng đáp ứng nhu cầu hoặc mong muốn của khách du lịch, liên quan đến quá trình ra quyết định của du khách và những lợi ích mà khách nhận được, sự quan trọng tương đối của các lợi ích cá nhân và kha năng của điểm đến đó mang lại cho du khách (Mayo & Jarvis (1981), Gearing, Swart&Var (1974), Ritchie & Zin (1978); Tang & Rochananond (1990), Lue, Crompton va Stewart (1996), Vengesayi (2003), Tasci & cộng su (2007). “THD cua PPDL là sự phan ảnh cảm nhận, quan điển của du khách, một ĐĐDL không được coi có THD khi nó không đáp ứng đây đủ những nhu câu về dịch vụ liên quan đến những dịch vụ cung ứng” (Ferrario, 1979), những dịch vụ này phải mang lại lợi ích cho du khách (Mayo và Jarvis (1981).
Theo Formica (2000), Funk và cộng sự (2004), Kotler và Armstrong (2014) đồng tình với quan diém đó nhưng nhân mạnh hon tới khả năng cung ứng dich vu khi đề cập tới THD của ĐĐDL,. Ngoài khả năng thỏa mãn nhu cầu về dịch vụ của khách du lịch THD của ĐĐDL còn là điểm đến thỏa mãn tính tò mò và có tính giáo dục của mỗi DDDL (Hu va Wall (2005), Leask (2010). Thậm chí, Gunn (2002) còn đưa ra nhận định những DDDL không có THD thi sẽ không có KDL. THD của DDDL đó là sự kết hợp của cả hai phía cung và cầu du lịch (Klenosky (2002), Morachat (2003), Formica (2004), Formica va Uysal (2006).
THD của DDDL được tạo nên bởi các hoạt động marketing du lich Lee. Lua chọn một DDDL dé tham quan tương tự như việc xem xét một hàng hóa hay dịch vụ nào đó trước khi mua nó (Wiang & Gao, 2010), (Bilkey & Nes, 1982). ĐĐDL càng hấp dan là điểm đến đáp ứng được nhiều nhu cầu của du khách (Gearing va cộng sự (1974), Swart&Var (1974), Ritchie & Zin (1978), Tang & Rochananod (1990). THD của ĐĐDL được đánh giá thông qua sự thuận tiện của vi trí địa lý kết hợp với sự cung ứng dịch vụ du lịch của điểm đến đó Buhalis (2000), UN, WTO (2003).
Vị trí của điểm đến ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của du khách (Beer & Matri (2004), Babié, Mehic, Kramo & Reric, 2008). Ở một nghiên cứu khác, Andersson và Getz (2009) cho rằng THD của DDDL liên quan đến khả năng thu hút vốn dau tu Dunning (1981), Van de Ven va Walker (1984), Harris và cộng sự (2003) THD của DDDL là những lợi ích kinh tế cho ĐĐDL đó mang lại, năng lực cạnh tranh của DDDL đó. THD còn được hiểu đó là “nguồn lực lâu dài” hoặc “vĩnh viễn” của một ĐĐDL, Andersson va Getz (2009), với sự phát triển của thị trường du lich va năng lực cạnh tranh của các DDDL khác, THD của một DDDL mang những nét đặc biệt và khác lạ so với các DDDL khác, Vester (1993). Dé đánh giá một điểm đến có hấp dẫn không đó là sự kết hợp bởi rất nhiều yêu tố tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tang, dich vụ, những nét nôi bật của địa phương, yếu tố về văn hóa và các yếu tố khác (Mc Intosh và Goeldner (1990), Inskeep (1991), Kim (1998).
Vì vậy, việc đánh gia THD của DDDL mà một vấn đề phổ biến được nhiều hoc giả quan tâm và nó góp phan rất lớn vào quá trình trải nghiệm của khách du lịch (Tasci, Cavusgil, & Gartner, 2007). THD của DDDL được xác định bởi những đặc điểm riêng có của điểm đến đó, hoạt động quảng bá du lịch góp phần thu hút khách du lịch (Formica (2002). Điểm đến đó càng đáp ứng nhu cầu của du khách thì càng có khả năng được lựa chọn trong chuyến hành trình của khách du lịch (Kim&Lee, 2002). Các nghiên cứu về thuộc tinh và các yếu to ảnh hưởng đến tính hấp dẫn của điểm đến du lịch Nhiều nghiên cứu khác nhau đã đưa ra quan điểm khác nhau về thuộc tính hap dẫn của ĐĐDL, tiêu biểu khi nghiên cứu về các thuộc tính tạo nên THD của DDDL của Gearing và cộng sự (1974) đã chỉ ra 17 thuộc tính tạo nên THD của một ĐĐDL trên cơ sở phân thành 05 nhóm các yếu tố.
Sau đó, Ritchie va Zins (1978) áp dụng 17 thuộc tính mà Gearing và cộng sự (1974) đưa ra đề tìm hiểu THD của Quebec, Canada. Sau đó, Bindu Roy và cộng sự (2023) dựa trên mô hình của Gearing và cộng sự (1974), Ritchie và Zins (1978) chỉ ra 15 thuộc tính trên cơ sở phân thành 06 nhóm yếu tố. Các công trình nghiên cứu cua Islam và cộng sự (2017) nhằm nghiên cứu THD của DDDL Bangladesh, tác gia đã đưa ra 24 thuộc tính và được phân thành 04 nhóm yếu tố, Dimitrov và cộng sự (2017) nghiên cứu về THD của Bulgaria với 13 thuộc tính, Chaudhary và Islam (2021) với nghiên cứu thực hiện tại thung lũng Kash mir, Ấn Độ, nhóm tác giả chỉ ra 39 thuộc tính thuộc 11 nhóm các yêu tố, Bùi và Mai (2012), (Thái Kim Phượng & cộng sự (2022), Nguyễn Thị Minh Nghĩa và cộng sự (2017),. đều đã đưa ra trong nghiên cứu của mình những thuộc tính dựa vào các công trình nghiên cứu trước đó kết hợp với thực tế của ĐĐDL.
Trên cơ sở đó, tác giả tổng hợp các thuộc tính tạo nên THD của một DDDL (Bảng 1.) cụ thé như sau: Bảng 1. Tổng hợp các thuộc tính nỗi bật tạo nên tính hấp dẫn của điểm đến du lịch Das Bindu Hu Dimitrov Gearing va " Roy và ¬ and ˆ và cộng | | Thuộc tính ef al cộng cộng sự Ritchie sự (1974) sự (2023) (1993) (2017) (2007) Vẻ đẹp tự nhiên x x x xX x Khi hau X X X X X Đặc điềm nghệ thuật và kiến trúc xX Các lễ hội X X X I1 Das Bindu Hu. | Dimitrov ` Gearing và ` Roy và. and và cộng Thuộc tính et al cong cộng su Ritchie sự (1974) sự (2023) (1993) (2017) (2007) Nét độc đáo của cộng đồng địa X X phương Hội chợ và triển lãm xX Thái độ đối với du khách X X X X X Di tích cô x Đặc điểm tôn giáo xX xX Cong trinh lich str x x Co sở vật chất thé thao X X X Cơ sở vật chất giáo dục X X Cơ sở vật chất cho việc nghỉ ngơi, x x chữa bệnh Giải trí ban đêm x X x Co so vat chất mua sắm xX x Co so ha tang xX xX x Cơ sở vật chat ăn udng và lưu trú x x x x Các bảo tàng, diém du lich văn hóa x Rao cản ngôn ngữ x x Các lễ hội sự kiện X X Hoạt động thể thao, giải trí X X X Hoạt động mua săm x x X Khả năng tiếp cận điểm đến X Xx Điều kiện giao thông X x Thức ăn X x Mức giá X X X X Nguồn: Tổng hợp của tác giả luận văn Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng THD của ĐĐDL đã được đề cấp từ nhiều thập niên trước trên thế giới.
Điển hình các nghiên cứu của Chapin (1974), 12 (Mathieeson & Wall, 1982a), (A. Lysonski, 1989), Seoho Um and John L Crompton (1990), Ercan Sirakaya, Robert W McLellan, and Muzaffer Uysal (1996), Muzaffer Uysal (1998), Harrison-Hill (2000), B. Gearing và cộng sự (1974) là nghiên cứu nền tảng về THD của ĐĐDL, nghiên cứu đã chỉ ra 17 thuộc tính và phân thành 5 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng tới THD của ĐĐDL đó là: (1) Các yếu tô về tự nhiên, (2) Các yếu tố về văn hóa và xã hội, (3) Các yếu té lịch sử, (4) Các điều kiện giải trí và mua sắm (đặc điểm vật chất), (5) Cơ sở hạ tầng, âm thực, lưu trú. Sau đó, Var và cộng sự (1977) đã kế thừa và sử dung mô hình của Gearing và cộng sự (1974) dé đánh giá sức hap dan tai British Columbia thuộc Canada.
Ritchie và Zins (1978) áp dung 17 tiêu chí trong nghiên cứu cua Gearing và cộng sự (1974) dé tìm hiểu về THD của Quebec, Canada.