MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là yếu tố quan trọng hàng đầu kiến tạo môi trường sống. Qua các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử xã hội loài người, con người đã không ngừng khai thác và sử dụng đất đai, từ đó làm nảy sinh mối quan hệ mật thiết đối với đất đai, đất đai trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt của xã hội và không thể thay thế bởi bất kỳ một loại tư liệu sản xuất nào khác, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Cùng với xu thế phát triển của xã hội, tất cả các ngành, các lĩnh vực đều cần được mở rộng và phát triển. Sự tăng nhanh về dân số kéo theo nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng lớn, trong khi đó đất đai lại không tăng lên về mặt số lượng khiến cho áp lực về đất đai ngày càng nhiều. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất.
Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có nền nông nghiệp chủ yếu như Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết và cấp thiết hơn bao giờ hết. Nho Quan là huyện miền núi phía Tây bắc của tỉnh Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình 35 km. Diện tích đất nông nghiệp của huyện là 35563.9% diện tích toàn huyện (Niên giám thống kê huyện Nho Quan).
Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của huyện đã được chú trọng đầu tư phát triển. Năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, đời e 2 sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Song trong sản xuất nông nghiệp còn tồn tại nhiều điểm yếu: Trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, tư liệu sản xuất giản đơn; kỹ thuật canh tác truyền thống, đặc biệt là việc độc canh cây lúa, ở một số nơi đã không phát huy được tiềm năng đất đai mà còn có xu thế làm cho nguồn tài nguyên đất bị thoái hoá. Trong khi đó, dân số tăng nhanh dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng nhanh tạo sức ép với đất nông nghiệp.
Trong bối cảnh đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan có ý nghĩa quan trọng nhằm tìm ra những hạn chế trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, làm cơ sở đề xuất các giảm pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, tổ chức sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững, cũng là để góp phần vào sự thành công cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện đến năm 2020 tầm nhìn 2030. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (1) Hệ thống hóa các vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp (2) Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016 - 2018 (3) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp góp phần tái cớ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 tầm nhìn 2030. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nông dân và các chủ thể khác như doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016 - 2018. Phạm vi nghiên cứu a. Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung xác định các hình thức sử dụng đất trên tại một số xã đại diện cho 3 tiểu vùng của huyện Nho Quan. Đồng thời đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại các xã điểm này để từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Nho Quan đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
Phạm vi không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Một số thông tin được thu thập ở cấp vĩ mô trên địa bàn toàn huyện. Đồng thời một số thông tin được thu thập ở các xã đại diện cho huyện Nho Quan. Phạm vi về thời gian: Thu thập số liệu và thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài từ các tài liệu đã công bố trong những năm gần đây, các số liệu thống kê của các tổ chức từ năm 2016 - 2018 và đề xuất giải pháp đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn Với những kết quả đạt được, luận văn đã có những đóng góp sau đây: - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên các mặt về kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. - Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình gắn với cơ cấu ngành nông nghiệp Nho Quan tỉnh Ninh Bình. - Kết quả nghiên cứu có thể giúp địa phương lựa chọn các cách thức sử dụng đất/kiểu sử dụng đất có hiệu quả cao, góp phần tăng thu nhập cho người dân trong sản xuất nông nghiệp, góp phần tái cơ cấu nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp a. Khái niệm đất nông nghiệp Luật Đất đai (2013) quy định, đất nông nghiệp là đất được xác định bao gồm các loại đất: đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013). Đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng.
Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. Phân loại đất nông nghiệp * Đất sản xuất nông nghiệp (SXN): là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm. - Đất trồng cây hàng năm (CHN): là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự e 5 nhiêncó cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi. Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác.
+ Đất trồng lúa (LUA.: là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương. + Đất chuyên trồng lúa nước (LUC.: là ruộng lúa nước cấy trồng từ hai vụ lúa mỗi năm trở lên kể cả trường hợp luân canh với cây hàng năm khác, có khó khăn đột xuất mà chỉ trồng cấy được một vụ hoặc phải bỏ hóa không quá một năm. + Đất trồng lúa nước còn lại (LUK): là ruộng lúa nước không phải chuyên trồng lúa nước. + Đất trồng lúa nương (LUN): là đất nương, rẫy để trồng từ một vụ lúa trở lên.
+ Đất cỏ dùng vào chăn nuôi (COC.: là đất trồng cỏ hoặc đồng cỏ, đồi cỏ tự nhiên có cải tạo để chăn nuôi gia súc; bao gồm đất trồng cỏ và đất cỏ tự nhiên có cải tạo. + Đất trồng cỏ (COT): là đất gieo trồng các loại cỏ được chăm sóc, thu hoạch như các loại cây hàng năm. + Đất cỏ tự nhiên có cải tạo (CON): là đồng cỏ, đồi cỏ tự nhiên đã được cải tạo, khoanh nuôi, phân thành từng thửa để chăn nuôi đàn gia súc. - Đất trồng cây hàng năm khác (HNK): là đất trồng cây hàng năm không phải đất trồng lúa và đất cỏ dùng vào chăn nuôi gồm chủ yếu để trồng mầu, hoa, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tầm, cỏ không để chăn nuôi; gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác.
+ Đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK): là đất bằng phẳng ở đồng bằng, thung lũng, cao nguyên để trồng cây hàng năm khác. e 6 + Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác (NHK): là đất nương, rẫy ở trung duvà miền núi để trồng cây hàng năm khác. - Đất trồng cây lâu năm (CLN): là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như Thanh long, Chuối, Dứa, Nho,.