MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta là nước có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, ngành trồng trọt phát triển và chiếm một vị trí quan trọng đối với đời sống con người. Nó đem lại nhiều lợi ích, không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm lớn có giá trị dinh dưỡng cao cho con người mà còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và làm thức ăn cho gia súc. Sản phẩm của ngành trồng trọt ngoài cung cấp cho thị trường trong nước mà còn để xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.
Vì thế yêu cầu chất lượng và hiệu quả sử dụng của sản phẩm phải rất cao, vừa phải đủ chất dinh dưỡng vừa phải đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và phải mang lại hiệu quả thu kinh tế cho người dân. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi người trồng cây phải thay đổi kỹ thuật trồng trọt sao cho phù hợp. Muốn làm được điều đó cần chú ý đến các yếu tố về cây giống, phân bón, chăn sóc quản lý, điều kiện tự nhiên. Nông thôn Việt Nam, đại diện là người nông dân có trình độ sản xuất còn thấp, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, việc tìm ra ra phương pháp để giải quyết vấn đề trên là vô cùng cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Phát triển nông nghiệp nói chung và sản xuất cây vụ đông nói riêng theo hướng sản xuất hàng hóa dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng có sẵn của vùng đang là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu được của Đảng đề ra. Đây là chủ trương lớn của Đảng ta trong những năm gần đây và những năm tiếp theo nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa để phát triển bền vững đất nước. Chính vì vậy việc đưa các giống cây trồng, vật nuôi có tiềm năng cho năng xuất cao vào sản xuất là một yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay Ở Việt Nam từ những năm cuối thập kỷ 70 do cuộc cách mạng xanh ở miền Bắc, lúa xuân thay thế lúa chiêm nên diện tích trồng khoai tây được mở rộng nhanh chóng (Trương Văn Hộ, 1990). Năm 1987, cây khoai tây chính thức được Bộ Nông Nghiệp đánh giá là một cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa, có vai trò vừa là 2 cây lương thực vừa là cây thực phẩm, đồng thời là cây xuất khẩu có giá trị kinh tế cao.
Với điều kiện khí hậu của vụ đông đồng bằng Bắc Bộ, khoai tây là một cây trồng lý tưởng. Võ Nhai là một huyện miền núi phía đông - bắc, người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, và là vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp với một số loại cây trồng như mía, ngô, lúa, khoai tây… So với các loại cây trồng khác thì khoai tây là loại cây trồng đang dần phát triển mạnh, sở dĩ cây khoai tây có được vị trí đó nhờ các ưu điểm sau: - Trước hết cây khoai tây rất phù hợp với điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu, nhiệt độ… của huyện. - Khoai tây là cây lương thực có thời gian sinh trưởng ngắn dao động từ 80 - 90 ngày), nhưng lại cho năng suất cao, đã có nhiều điển hình đạt năng suất 25 - 30 tấn/ha. Sản phẩm thu hoạch dễ tiêu thụ và dễ thương mại hóa.
Mặt khác rất phù hợp với công thức luân canh truyền thống với 2 vụ lúa xuân và vụ lúa mùa. Cây khoai tây nếu được đầu tư thâm canh sẽ mang lại lượng hàng hóa lớn, có giá trị xuất khẩu làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. - Ngoài những ưu điểm trên cây khoai tây còn có một số ưu điểm khác như dễ trồng, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở huyện Võ Nhai-Thái Nguyên, để có những cơ sở khoa học hiểu biết về phát triển cây khoai tây theo hướng hàng hóa có hiệu quả đem lại giá trị kinh tế và phương hướng phát triển cây khoai tây trong những năm tới.
Chính vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất khoai tây trên địa bàn huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả mô hình trồng cây khoai tây trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu được Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai 3 - Đánh giá được thực trạng sản xuất khoai tây tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá được thực trạng mô hình sản xuất khoai tây tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá được hoạt động tập huấn kỹ thuật trồng khoai tây. - Đánh giá được hiệu quả mô hình sản xuất khoai tây tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên - Tìm ra được những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện mô hình. - Đề xuất được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình trong thực tiễn sản xuất. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố thêm những kiến thức, kỹ năng đã học.
Đồng thời có cơ hội vận dụng chúng vào sản xuất thực tế Góp phần thu thập dữ liệu về thực tiễn sản xuất, là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan Biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành một khóa luận. - Ý nghĩa thực tiễn: Rút ra được nhưng thông tin để thực hiện kế hoạch phát triển những năm tiếp theo đối với cây khoai tây. Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu khoa học có liên quan Đây là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà quản lý trong lĩnh vực khuyến nông tại địa phương. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Lý luận chung về mô hình 2. Khái niệm mô hình Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận. Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu đều có những ưu điểm riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng. Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại. Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu.
Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu [6]. Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế. Như vậy, mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu. Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình.
Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau. Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để mô phỏng 5 và trình bày là khác nhau. Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và đều được thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu. * Mô hình sản xuất Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động của chính mình.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sự phát triển của các công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu trong nền sản xuất. Từ những công cụ thô sơ nay đã được thay thế bằng những công cụ sản xuất hiện đại làm giảm hao phí về sức lao động trên một đơn vị sản phẩm, đó là mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại. Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong những nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài những yếu tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các điều kiện sản xuất trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích ích kinh tế. * Mô hình trồng trọt Mô hình trồng trọt là mô hình tập trung vào các đối tượng cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, là mô hình trình diễn các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về cây trồng như: lúa, ngô, rau, khoai tây, lạc… Mô hình trồng trọt giúp hoàn thiện quá trình nghiên cứu của nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp.
Mà nông dân vừa là chủ thể sản xuất vừa là nhà thực nghiệm, đồng thời nông dân là đối tượng tiếp thu trực tiếp các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, và họ cũng là người truyền bá kỹ thuật này cho các nông dân khác cùng làm theo. Mô hình trồng trọt cần được thực hiện trên chính những thửa ruộng của người dân, trong đó người dân sẽ đóng vai trò chính trong quá trình thực hiện, còn nhà nghiên cứu và cán bộ khuyến nông đóng vai trò là người hỗ trợ thúc đẩy để giúp nông dân thực hiện và giải quyết những khó khăn gặp phải. Vai trò của mô hình Mô hình là công cụ nghiên cứu khoa học, phương pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống như một tổng thể. Nó giúp cho các nhà khoa học hiểu biết và đánh giá tối ưu hóa hệ thống.