Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số quan điểm về phát triển khoa học công nghệ - Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ. - Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ. - Ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển khoa học và công nghệ. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ.
Chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai; coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới ứng dụng và chuyển giao công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường khoa học và công nghệ. Quan tâm đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam. - Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để cập nhật tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới, thu hút nguồn lực và chuyên gia, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia các dự án khoa học và công nghệ của Việt Nam. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh n 5 sau khi được đào tạo ở nước ngoài về nước làm việc.2 Các quan niệm về hiệu quả kinh tế.
- Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù phản ánh việc sử dụng nguồn lực (nhân lực, vật lực.) để đạt được hiệu quả cao nhất. Hay nói cách khác HQKT là một phạm trù phản ánh chất lượng của một hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường sử dụng các nguồn lực có sẵn trong một hoạt động kinh tế. Đây là đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất do nhu cầu vật chất ngày càng cao.
- HQKT là mối quan tâm duy nhất của kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng. Hiệu quả nói một cách khái quát nghĩa là không lãng phí [2]. - HQKT được bắt nguồn từ sự thoả mãn ngày càng tăng các nhu cầu vật chất và tinh thần của tất cả các thành viên trong xã hội cũng như khả năng khách quan của sự lựa chọn trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự giới hạn của nguồn lực. Quá trình tái sản xuất vật chất, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào theo công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định [7].
- HQKT xã hội là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọi mục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí để có được những kết quả đó. HQKT biểu thị mối tương quan giữa các kết quả đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội, với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Do vậy, HQKT - xã hội phản ánh một cách tổng quát dưới góc độ xã hội. Từ những quan niệm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng nó là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế quản lý.
Hơn nữa việc xác định hiệu quả là hết sức khó khăn và phức tạp cả về lý luận và thực tiễn. Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Vì vậy, sản xuất phải không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả về ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
n 6 Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, của bất kỳ mô hình nào thì đó chính là khả năng tạo việc làm thường xuyên, tạo cơ hội để mọi người dân trong vùng đều có việc làm và tăng thêm thu nhập. Không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất lẫn tinh thần trên cơ sở đó thực hiện công bằng dân chủ và công bằng xã hội. Hiệu quả môi trường: Hiệu quả môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo cho môi trường sinh thái ngày càng được bảo vệ và cải thiện, phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng bền vững. Có nghĩa là phát triển liên tục trên cơ sở khai thác hợp lý các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho thế hệ tương lai.
Hiệu quả môi trường còn thể hiện là mô hình không có tác động gây ô nhiễm môi trường, vừa ít hoặc không được sử dụng các loại thuốc kích thích cũng như thuốc bảo vệ thực vật vì đó là những tác nhân chính gây nên ô nhiễm môi trường hiện nay. Một số tiêu chí về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. * Về trồng trọt - Về công nghệ sản xuất: Ứng dụng công nghệ sinh học như: Công nghệ gen; Công nghệ nhân giống, truyền giống có cải tiến (nuôi cấy mô, hom, vi ghép); Công nghệ nuôi nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào thực vật. - Về canh tác: Sử dụng các công nghệ trồng như: nhà lưới, nhà màng (phủ ni lông), nhà kính.
Trong đó, nhà lưới, nhà màng có thể triển khai phù hợp đem lại hiệu quả cao. * Về chăn nuôi - Về gia súc, gia cầm áp dụng CNC vào sản xuất để có sự ổn định về chất lượng và tăng năng suất của một số vật nuôi để làm nguồn thực phẩm an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Về công nghệ chăn nuôi, sử dụng công nghệ điều khiển nhiệt độ của phòng nuôi (điều hòa không khí và thông gió); hệ thống tiêu thoát nước thải hiện đại, hệ thống biogas giúp hạn chế ô nhiễm môi trường và tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp cho sinh lý của vật nuôi; sử dụng hợp lý các thức ăn phù hợp theo nhu cầu sinh lý và khả năng sản xuất của từng loài vật nuôi [11]. n 7 Ngoài ra: - Công nghệ đó phải có hàm lượng chất xám cao hơn so với mặc bằng sản xuất hiện tại.
- Công nghệ đó phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ kỹ thuật của địa phương nơi áp dụng. - Sản phẩm của công nghệ đó phải có chất lượng tốt, an toàn, có thị trường và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế và chỉ tiêu đánh giá HQKT là một phạm trù kinh tế chung nhất, có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác. HQKT được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra.
H = K/C Với H là hiệu quả của một quá trình kinh tế, K là kết quả thu được từ quá trình kinh tế đó và C là toàn bộ chi phí để đạt được kết quả đó. Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: "Hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó." Từ khái niệm chung đó cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất. Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong các điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định.
Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn. Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau. Mặt khác, tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả của xí nghiệp. Vì vậy, nhu cầu thì đa dạng, thay đổi theo n 8 thời gian và tùy thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất.
Mặt khác, nhu cầu cũng gồm nhiều loại: nhu cầu tối thiểu, nhu cầu có khả năng thanh toán và nhu cầu theo ước muốn chung. Có thể coi thu nhập tối đa trên một đơn vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay. Đối với toàn xã hội thì tiêu chẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thoả mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng và giá thành thấp để tăng khả năng cạnh tranh. Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao động bỏ ra.