Đặt vấn đề Vị Quang cũng nhƣ nhiều địa phƣơng khác trong cả nƣớc, trong những năm qua tùy vào điều kiện thực tế và điều kiện tự nhiên của địa phƣơng và nguồn lực của hộ gia đình mà ngƣời dân đã thử nghiệm gây trồng và phát triển nhiều mô hình NLKH khác nhau. Việc canh tác, sử dụng đất theo hƣớng NLKH trên thực tế đã và đang có những đóng góp tích cực trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cải thiện môi trƣờng sinh thái và đặc biệt là gia tăng thu nhập cho ngƣời dân. Hiện tại để nhân rộng các mô hình có triển vọng tại địa phƣơng thì ngƣời dân và các cơ quan khuyến nông lâm cần tìm ra các phƣơng pháp và công cụ đơn giản, dễ áp dụng để cộng đồng đánh giá các mô hình hiện có từ đó làm cơ sở cho việc cải tiến và lan rộng. Đất đồi núi Việt nam có những đặc điểm điển hình là có độ dốc lớn, cùng với kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm, mƣa theo mùa và các hoạt động khai thác bừa bãi, thiếu sự quản lý chặt chẽ khiến cho đất đai đang phải chịu các tác động xấu dẫn tới các hiện tƣợng thoái hóa đất nhƣ rửa trôi, xói mòn thêm vào đó việc canh tác trên đồi núi dốc nhƣng thiếu khoa học kỹ thuật chủ yếu là các hoạt động thủ công truyền thống nên việc sử dụng đất lâu dài chƣa đƣợc trú trọng đặc biệt là đối với khu vực đồi núi có độ dốc lớn.
Từ đó dẫn tới các hậu quả nhƣ năng xuất, chất lƣợng cây trồng ngày càng giảm, đất và môi trƣờng bị ảnh hƣởng dẫn tới các hiện tƣợc cực đoan hạn hán, mƣa lũ. Nguyên nhân chính dẫn tới hiện tƣợng đất bị thoái hóa, khi hậu bị thay đổi là việc ngƣời dân canh tác nông nghiệp trên đất dốc theo hƣớng truyền thống và độc canh nêu sau một thời gian canh tác cây trồng đem lại năng xuất thấp do đất n 2 đã bị khai thác không hợp lý, không theo kỹ thuật khiến cho việc phát triển kinh tế dựa vào cây trồng nông nghiệp theo hƣớng độc canh không đem lại hiệu quả cho ngƣời dân. Vị Quang là một xã miền núi thuộc huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng dạng địa hình chủ yếu là đồi núi với thung lũng nhỏ đan xen nhau. Diện tích của xã là 2.320,13 ha, dân số khoảng 950 ngƣời, chủ yếu là ngƣời dân tộc sinh sống.
Xã có địa hình chủ yếu là đồi núi và có độ dốc lớn nên việc canh tác còn chịu nhiều hạn chế nhất định với việc phát triển cũng nhƣ nâng cao sản xuất nông lâm nghiệp chƣa thực sự đƣợc quan tâm.Nền kinh tế phụ thuộc vào nền nông nghiệp và phần nhỏ vào lâm nghiệp là chính nên chủ yếu ngƣời dân có nền kinh tế là tự cung tự cấp, cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chƣa đa dạng nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí chƣa cao,sản xuất nhỏ lẻ,cơ sở hạ tầng còn kém phát triển.Tình hình quản lý sử dụng đất đai chƣa hợp lý ảnh hƣởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân.Xuất phát từ thực tiễn trên nên tôi chọn đề tài:“Đánh giá hiệu quả mô hình Nông Lâm Kết Hợp tại xã Vị Quang,huyện Thông Nông,tỉnh Cao bằng ” nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cải thiện môi trƣờng sinh thái và đặc biệt là tăng nguồn thu nhập cho ngƣời dân. Mục đích nghiên cứu Góp phần đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả sản xuất của mô hình NLKH thông qua đó ổn định nâng cao đời sống của ngƣời dân. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trƣờng của mô hình NLKH tại địa bàn xã. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các mô hình NLKH tại địa phƣơng.
Ỹ nghĩa của chuyên đề - Ý nghĩa trong học tập + Giúp cho sinh viên củng cố hệ thống hóa lại kiến thức đã học + Là cơ hội để sinh viên cọ sát với thực tiễn sản xuất, áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất +Phân loại và đánh giá hiệu quả mô hình NLKH tại xã Vị Quang. + Tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển NLKH từ đó đƣa ra một số giải pháp khắc phục những khó khăn và phát huy những thuận lợi nhằm phát triển kinh tế tại xã Vị Quang. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học 2.1 Sự ra đời của NLKH Theo số liệu thống kê năm 1943 độ che phủ toàn quốc là 42 %.
Năm 1993 giảm xuống còn 27 %, điều này chứng tỏ diện tích rừng của nƣớc ta giảm xuống một cách nghiệm trọng. Trong khi đó rừng là một yếu tố hết sức quan trọng của môi trƣờng sinh thái. Chính vì vậy mà hơn lúc nào hết vấn đề rừng tại Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trên toàn thế giới đang đƣợc cả xã hội quan tâm nhƣ ngày nay. Đứng trƣớc tình hình đó đến đầu thế kỷ này ngƣời ta đã tìm ra một hƣớng đi mới đúng đắn hơn, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn đó chính là phát triển rừng dựa trên lợi ích của ngƣời dân sống gần rừng và cạnh rừng, bên cạnh đó Lâm nghiệp xã hội ra đời với mục tiêu phát triển bền vững, rừng sẽ đƣợc ngƣời dân bảo vệ chăm sóc và phát triển, khi giao rừng cho ngƣời dân nhà nƣớc sẽ cung cấp hỗ trợ cho họ vốn, kỹ thuật cùng tìm ra những khó khăn và giải pháp khắc phục.
NLKH chính là một phƣơng thức canh tác bền vững hiệu quả mà ngành Lâm nghiệp xã hội cung cấp chuyển giao cho bà con. Mặt khác hệ thống NLKH có thể đƣợc sử dụng không những cho các hộ nông dân cá thể mà còn cho cả một cộng đồng dân cƣ. Chính vì vậy mà sự ra đời của hệ thống NLKH đã mở ra một hƣớng phát triển mới phù hợp với ngƣời dân nên hiện nay đƣợc ngƣời dân tham gia sản xuất nhiều với quy mô ngày một rộng lớn.2 Quan điểm về hệ thống NLKH Quá trình hình thành và phát triển NLKH đã có từ khá lâu đời, có nhiều quan điểm về hệ thống NLKH. Nhƣng trong đó quan điểm của hai tác giả Landgren và Raintree, hiện nay đƣợc coi là hoàn chỉnh nhất đƣợc công nhận rộng n 5 rãi trong các văn bản của ICRAF (Trung tâm Quốc tế về nghiên cứu NLKH).
Theo quan điểm này NLKH là tên gọi chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre hay cây ăn quả, cây công nghiệp…) đƣợc trồng suy tính trên một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu hoặc với vật nuôi dƣới dạng xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống NLKH có mối tác động tƣơng hỗ qua lại cả về mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng (Landgren và Raintree, 1982).2 Tình hình nghiên cứu NLKH trong và ngoài nƣớc 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo uớc tính của (FAO,1994), du canh du cƣ là nguyên nhân tạo ra hơn 70% của tổng diện tích rừng nhiệt đới ở Châu Phi, diện tích đất rừng bỏ hoá sau nuơng rẫy chiếm 26,5% diện tích rừng khép tán còn lại ở Châu Phi, khoảng 16% ở Châu Mỹ La Tinh và 22,7% ở khu vực nhiệt đới của Châu Á.[8] Để giảm thiểu sự suy thoái tài nguyên môi truờng toàn cầu nạn phá rừng đốt nuơng làm rẫy, gây mất cân bằng sinh thái, đã có nhiều nghiên cứu về các phuơng thức canh tác khác nhau nhƣng cùng chung mục đích giảm suy thoái đất, bảo vệ môi truờng, tăng hiệu quả kinh tế đảm bảo tính chất bền vững. Trong đó phải kể đến những phuơng phức làm tiền đề cho những hệ thống NLKH sau này đựoc hình thành.Phuơng thức canh tác cây thân gỗ cùng với cây công nghiệp trên cùng diện tích đất là tập quán sản xuất lâu đời của nhiều nông dân ở nhiều nơi trên thế giới. Theo King (1987), cho đến thời Trung cổ ở châu Âu, vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là "chặt và đốt" rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp.
Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ 19 và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920. Nguời lao động đuợc phép trồng cây luơng thực giữa các hàng cây chƣa khép tán để giải quyết nhu cầu luơng thực hàng năm, phuơng thức này sau đó đựoc áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi, những nghiên cứu phát triển các hệ thống kết hợp này thƣờng huớng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp đƣợc thực hiện bởi các nhà lâm nghiệp với việc luôn cố gắng đảm bảo các nguyên tắc: + Giảm thiểu hoặc không gây tổn hại đến các loại cây trồng là đối tuợng cung cấp sản phẩm chủ yếu của hệ thống. + Sinh truởng của cây rừng trồng không gây bị hạn chế bởi cây nông nghiệp. + Tối ƣu hoá về thời gian canh tác từ cây trồng nông nghiệp sẽ đảm bảo tỷ lệ sống và tốc độ sinh truởng nhanh của cây thân gỗ + Loại cây rừng trồng có khả năng cạnh tranh với các loại cây nông nghiệp + Tối ƣu hoá mật độ để đảm bảo sự sinh truởng liên tục của cây trồng thân gỗ.
Chính vì vậy mà hệ thống này chƣa đƣợc xem xét nhƣ một hệ thống quản lý sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp (Nair, 1987).[11] Ở Thuỵ sỹ hình thức sản xuất NLKH đƣợc áp dụng sớm nhƣ ở Đức và Phần Lan nhƣng nó trở thành phổ biến sau năm 1973. Ở Mỹ hình thức sản xuất NLKH còn đựoc thể hiện ở các ngành chăn nuôi, chăn nuôi gia súc trong rừng ở Mỹ rất phổ biến, cả nuớc có 140 triệu ha rừng cung cấp thức ăn cho gia súc ở Zambia khoảng 5000 nguời dân đang thực hiện việc cải tiến cho thời kì bỏ hoá theo thời gian nhằm phục hồi độ phì của đất và nâng cao năng suất, sản luợng cây trồng.[5] Thông qua sự phát triển những hệ thống NLKH ở các nuớc trên thế giới, chúng ta biết đuợc rằng NLKH đã đƣợc phát triển từ rất sớm và đã đựoc các nuớc chú trọng áp dụng để có đƣợc hệ thống NLKH với quy mô và phƣơng thức kết hợp đa dạng phong phú tạo hiệu quả cao.