Đặt vấn đề Giới thiệu về đề tài nghiên cứu, mục đích và phạm vi nghiên cứu sở lý luận và phương pháp nghiên citu Chương 2:Cơ Trinh bày nguyên lý sự PTNT, các khái niệm về phát triển bén vững, môi trường, và các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế. Chương 3: Tổng quan Trinh bày một cách tổng quan về điều kiện tự nhiên, KT - XH, lịch sử và hướng phát triển của nghề nuôi tôm của huyện. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Xác định kết quả và hiệu quả kinh tế của từng mô hình, nhóm. Sự tác động qua lại giữa môi trường và nghề nuôi.
Tìm ra những trở ngại và khó khăn còn tổn động. từ đó có biện pháp tháo sở, xác định hướng đi của nghề nuôi trong những năm tới. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Tóm lược những kết quả đã được nghiên cứu và để xuất các khuyến nghị Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguyên lý của sự phát triển nông thôn Phát triển nông thôn là một tiến trình con người gia tăng hiệu quả sản xuất để có nhiều sản phẩm và địch vụ mong muốn, từ đó gia tăng mức sống cá nhân và phúc lợi cộng đồng nhưng không làm ảnh hưởng môi trường theo chiều hướng xấu ở nông thôn. Phát triển nông thôn không thể tách rời nguyên lý chung của sự phát triển, bên cạnh đó còn quan tâm đến tăng cường kết hợp kỹ năng sáng tạo của con người và năng lực của cộng đồng để phát triển nông thôn.
Phát triển nông thôn hướng vào 3 thành phần cơ bản là: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và phát triển bén vững.1 Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế: là sự gia tăng của cải cho xã hội và đảm bảo hiệu quả lâu dài cho vùng, lãnh thổ, quốc gia, thể hiện qua tổng sản phẩm kinh tế quốc dân (GDP) gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao đời sống xã hội. Do vậy phát triển kinh tế một vùng, lãnh thổ, một quốc gia đòi hỏi phải diễn ra trong thời gian dài, tác động đến hầu hết các thành phần kinh tế của toàn bộ nên kinh tế quốc dân. Phát triển nông thôn phải chú ý đến các thành phân kinh tế, chú ý đến nhiều khâu của quá trình sản xuất, đồng thời cải tiến sản xuất các ngành nghề, mở rộng thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, một vùng lãnh thổ hay một quốc gia muốn phát triển thì phát triển về mặt kinh tế vẫn chưa đủ.
Bằng chứng là, các nước đang phát triển ở Châu Á vào những năm 1960s, tuy rằng kinh tế phát triển nhưng xã hội vẫn còn những người nghèo, đói, không nhà, khoảng cách giữa hai thái cực giàu và nghèo càng lúc càng xa hơn, tình trạng an sinh xã hội không được chú trọng, nhất là đời sống của những người nghèo khổ không được quan tân phát triển, nhiều lúc còn bị ngược đãi. Vì thế, việc phát triển kinh tế nhất định phải đi đôi với phát triển xã hội.2 Phát triển xã hội Phát triển xã hội: là tạo ra nhiều phúc lợi cho cá nhân, cộng đồng trong chăm sóc sức khoẻ, giáo dục y tế, đời sống tinh thần, vật chất cho xã hội. Ngoài ra, phát triển xã hội cũng nhằm tăng phúc lợi cho cá nhân nông thôn ngang bằng với phúc lợi cá nhân thành thị nhưng không làm ảnh hưởng đến phúc lợi cộng đồng. Đồng thời tạo ra sự bình đẳng giữa các cá nhân, cộng đồng, tạo ra sự bình đẳng giữa các thế hệ ở hiện tại và tương lai.
Muốn phát triển xã hội, nhất thiết phải giải quyết việc làm cho người dân nông thôn trên cơ sở ngày càng có nhiều ngành nghề mở ra ở nông thôn, các ngành nghề nông lâm ngư nghiệp làm thế mạnh cho phát triển. Các ngành nghề khác và dịch vụ cần đa dạng, hợp lý trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp địa phương và cơ cấu kinh tế chung của cả nước. Vấn để quy hoạch dân cư là vấn để khá phức tạp, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau ở nông thôn. Sự phân bố dân cư tân mạn sẽ khó khăn trong quá trình quy hoạch nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn và gây lãng phí không cần thiết.
Quy hoạch dân cư nhằm hướng đến giải pháp tối ưu về bố trí sản xuất theo hướng chuyên môn hoá và tạo điều kiện hình thành khu đân cư tiêu chuẩn mới, đảm bảo nhu cầu vệ sinh và thực hiện văn minh nông thôn. Một vấn để khác của phát triển xã hội là cần tăng cường giáo dục, y tế, nước sạch và chăm sóc sức khoẻ cho người dân nông thôn. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực rất cân có sự đầu tư của Nhà nước nhằm tạo điều kiện phát triển nông thôn về mặt phúc lợi xã hội. Sơ đồ 1: Sơ Đồ Phát Triển Nông Thôn về Mặt Xã Hội Phát triển về mặt xã hội ở nông thôn ee Giai Tang thu Quy Tang =.
Tao su Cac quyét nhập cho hoạch cường bình đẳng phúc công ăn người dân cư giáo giữa các lợi xã việc làm dân nông thôn dục, y tế thế hệ hội Nguồn tin: Nguyễn Văn Năm -1997 - Giáo Trình KTPINT 2.3 Phát triển bền vững Khái niệm phát triển bén vững ra đời rất muộn màng, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1987 trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Uỷ Ban Môi Trường và Phát Triển của Ngân Hàng Thế Giới. Việc phát triển kinh tế - xã hội mà không gắn liên với môi trường sinh thái và phát triển bền vững thì không gọi đó là sự phát triển. Ở Việt Nam quan niệm phát triển bén vững lần đầu tiên được ghi nhận trong bản kế hoạch Quốc Gia về Môi Trường va Phát Triển Bén Vững do Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành ngày 12/06/1991. ne Phát triển bên vững được định nghĩa là sự gia tăng của cải cho xã hội trên cơ sở sử dụng, khai thác các nguồn lực có giới hạn phục vụ cho cuộc sống, nhu cầu hiện tại của con người nhưng không ảnh hưởng đến việc thoả mãn nhu cầu của thế hệ tương lai.
Hay phát triển bén vững là phát triển kinh tế gắn liên với việc phát triển xã hội, phát triển con người trong điều kiện bảo tổn tài nguyên, môi trường. Sơ Đô Venn Minh Hoa cho Sự Phát Triển Bên Vững Vừa phát triển kinh Các mục tiêu tế vừa phát triển văn hoá xã hội VH-XH PTBV như là khối cộng đồng của các giá trị KT- VH- MT Bảo vệ môi trường Các mục tiêu môi trường Nguồn tin : Nguyễn Văn Năm — 1997 — Giáo Trình KTPTNT Khái niệm phát triển bén vững hiện nay có liên quan đến hàng loạt các vấn dé như cơ sở của sự phát triển, cách tiếp cận và các chỉ tiên đánh giá mức độ bén vững, con đường phát triển bền vững phải làm gi và làm như thế nào để đạt được nó trong một lãnh thổ, một quốc gia và trên toàn thế giới. Những vấn để như vậy đã và đang được nhiều nhà khoa học nghiên cứu để tìm lời giải đáp. Các nhà kinh tế hiện đại nhấn mạnh đến mối tương quan giữa dân số, hoạt động kinh tế và môi trường.
Vấn để môi trường và việc phát triển sinh thái bền vững ở nông thôn là việc hết sức cân thiết, cấp bách. Môi trường nông thôn hiện nay đang chịu nhiều áp lực của sự phát triển. Khai thác và sử dụng tài nguyên nông thôn đã làm suy thoái môi trường, nhất là khai thác rừng, tài nguyên biển quá cường độ, sử dụng quá nhiều chất độc trong sản xuất nông - công nghiệp. Nguồn nước ô nhiễm từ các nhà máy, đô thị hoá gây tác động xấu đến cây trồng, vật nuôi đặc biệt là đến môi trường nuôi trồng thuỷ sản mA chúng tôi muốn dé cập, làm mất cân bằng sinh thái và sự duy tri đa dang các loài ở hệ sinh vật nông thôn.
Như vậy, làm thế nào để cải thiện được môi trường nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu phát triển cho con người ở nông thôn? Đây là bài toán khó đối với các quốc gia đã và đang phát triển hiện nay. Song cũng thừa nhận rằng những thành tựu công nghệ mới đã góp phần tháo gở phân nào những khó khăn đó. Ngoài ra còn phải xem xét góc độ giữa gia tăng dân số và phát triển nhằm giảm thiểu sự khai thác quá mức của các nguồn tài nguyên. Tạo ra những sản phẩm, những nguyên liệu thay thế mới để giảm dẫn sức ép đối với một số tài nguyên tái sinh và không thể tái sinh được.
Cân áp dụng những phương pháp canh tác mới, những quy trình kỹ thuật mới nhằm đáp ứng nhu câu phát triển kinh tế, giải quyết nhu cầu xã hội và cải thiện môi trường, dam bảo các tài nguyên vẫn tồn tại cho thế hệ mai sau.4 Tiếp cận phát triển bền vững đối với ngành thuỷ sản Trên cơ sở tiếp cận khái niệm phát triển bén vững, từ góc nhìn của ngành thuỷ sắn, có thể hiểu khái niệm phát triển bén vững theo các khái niệm: * Phát triển một ngành kinh tế thuỷ sản hiệu quả dam bảo lợi ích lâu dài. 10 * Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chức năng của hệ thống tài nguyên TS như các hệ sinh thái thuỷ vực, các hệ sinh thái biển và vùng ven bờ. * Bảo đầm quyền lợi của cộng đồng dân cư hưởng dụng nguồn tài nguyên thuỷ sản, góp phân xoá đói giảm nghèo cho dan cư, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi giữa các thế hệ. * Chấp nhận phát triển đa ngành ở vùng ven biển, tối ưu hoá việc sử dụng đa mục tiêu các hệ thống tài nguyên liên quan đến nguồn lợi thuỷ sản, giảm thiểu mâu thuẩn lợi ích và tác động của các ngành khác đến tính bền vững của nguồn lợi thuỷ sản.
Các nguyên tắc cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển bển vững vùng ven biển và vùng thuỷ sản nói trên có thể tóm tắt như sau: * Bảo đảm cân bằng sử dụng hợp lý va bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng đối với phát triển ngành kinh tế thuỷ sản. Coi trọng phục hổi và bảo tổn nguồn lợi thuỷ sản. Đảm bảo vệ sinh môi trường trong tất cả các khâu của quy trình sản xuất thuỷ sản. * Tăng cường thể chế và chính sách quản lý hiệu quả và bén vững ngành.
Lông ghép các cân nhắc môi trường vào trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ngành.