MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Chè là cây công nghiệp dài ngày được trồng lâu đời rên đất nước ta và ngày càng có vị trí quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước .Đã từ lâu chè có vị trí không thể thay thế ở một số vùng của đất nước trong quá trình phát triển. Sản phẩm chè được tiêu dùng phỏ biến ở đất nước ta bởi tác dụng của chè được kiểm chứng qua chiều dài lịch sử. Ngành chè nước ta hiện nay vừa có lợi thế vừa có khả năng to lớn để phát triển không những nội lực trong nghành được phát huy mạnh mẽ mà còn có các điều kiện bên ngoài cũng rất thuận lợi để phát triển chè. Mặt khác cây chè phát triển còn tạo công ăn việc làm cho một lượng lao động rất lớn ở các vùng nông thôn, đem lại thu nhập cho họ góp phần xóa đói giảm nghèo, giúp nông thôn rút ngắn khoảng cách về kinh tế với thành thị, thiết lập công bằng xã hội.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc bộ, có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số hiện nay là hơn 1 triệu người, chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả nước. Thái Nguyên là đầu mối kinh tế giữa thủ đô hà nội và các tỉnh phía Bắc do đó vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế ,văn hóa thị trấn hội của đất nước.Đặc biệt Thái Nguyên có vị trí điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây chè. Chè trung du là loại chè truyền thống của Thái Nguyên được gieo trồng bằng hạt từ rất lâu đời nên vị trà rất đậm đà.Gần 100 năm trước, dưới bàn tay của những người làm chè Thái Nguyên, những búp chè trung du được chế biến thành sản phẩm chè Cánh Hạc – thứ chè đã được phong danh hiệu “Đệ nhất danh trà” trong một cuộc thi về các sản phẩm chè ở đất Hà Thành. Từ đó đến nay, sản phẩm chè trung du vẫn mang hương vị riêng được người tiêu h 2 dung ưa chuộng.
Đây chính là chứng minh sống động, khẳng định chè trung du là một thứ đặc sản quý của vùng chè Thái Nguyên. Giống chè này có khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, chịu rét khá tốt. Đặc biệt chè trung du có tính thích ứng cao với các vùng chè, có khả năng sinh trưởng mạnh, thân cây to, tán chè rộng, độ che phủ lớn, vì vậy có thể chống xói mòn và rửa trôi, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Chè trung du không chỉ phù hợp với sản xuất chè vụ đông mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân mà còn có thẻ trở thành địa điểm đẹp cho du khách thăm quan mở du lịch địa phương, phát triển ngành du lịch dịch vụ, đa dạng hóa ngành nghề tai địa phương.
Huyện Đồng Hỷ là vùng sản xuất chè nằm trong dự án quy hoạch phát triển cây chè theo tiêu chuẩn sạch, an toàn để trở thành vùng nguyên liệu phục vụ cho chế biến theo tỷ lệ 80% chè xanh và 20% chè đen. Chè trung du là chè đặc sản của vùng chè Minh Lập nhưng trên thực tế diện tích trồng chè trung du của vùng chè Minh Lập giờ còn rất ít và đang đứng trước nguy cơ bị mất dần và được trồng thay thế bằng chè cành. Do đó vấn đề đặt ra là bảo vệ phát triển trồng chè trung du một cách cụ thể từ đó giúp người sản xuất chè tại xã đưa ra hướng phát triển cho mình để đem lại hiệu quả cao nhất và phát huy được thế mạnh của địa phương. Chính vì vậy em đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp :”Đánh giá hiệu quả kinh tế chè Trung du của nông hộ trên địa bàn xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết các vấn đề còn tồn tại để phát triển hơn nữa ngành sản xuất chè trên địa bàn.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè Trung du và đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè trên địa bàn xã Minh Lập huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiêủ thực trạng hoạt động sản xuất chè tại xã Minh Lập - Phân tích, đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất chè Trung du của các hộ gia đình - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của cây chè Trung du - Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chè đối với các hộ gia đình trên địa bàn xã 1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Là nguồn cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu về sau.
- Củng cố các kiến thức thực tiễn trong lĩnh vực nông nghiệp. - Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội (KT-XH) của địa phương nghiên cứu. - Nâng cao kiến thức kĩ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế cho công tác nghiên cứu sau này. - Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về phương thức sản xuất chè tại địa phương.
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài nghiên cứu và đánh giá một cách tổng quát hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất của người dân trồng chè tại xã Minh Lập, từ đó nhận thấy rõ h 4 được vị trí của cây chè đối với sự phát triển kinh tế của địa phương. Qua kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ UBNN xã Minh Lập và các cơ quan liên quan trong việc phát triển KT-XH, chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa phương nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế (HQKT) nông nghiệp nông hộ, đặc biệt là người dân trồng chè. Ý nghĩa đối với sinh viên Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố thêm kiến thức, kỹ năng học.
Đồng thời có cơ hội vận dụng vào thực tế. Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Lý luận về hiệu quả kinh tế 2.Khái niệm,bản chất của hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người [20]. Theo David Begg (1992) [19], “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm một loại hàng hóa khác"và ông còn khẳng định “Hiệu quả nghĩa là không lãng phí”.Các quan điểm này đúng trong nền kinh tế thị trường ở các nước phát triển nhưng khó xác định vì chưa đề cập đến chi phí để tạo ra sản phẩm, nhất là ở các nước đang phát triển hay chậm phát triển.
Theo Nguyễn Như Ý (1999) [18] “Hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả với chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực h 5 hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa" Khi đề cập đến hiệu quả cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản là hiệu quả kỹ thuật , hiệu quả phân bố nguồn lực và hiệu quả kinh tế. Đó là khả năng thu được kết quả sản xuất tối đa với việc sử dụng những yếu tố đầu vào theo những tỷ lệ nhất định. Chỉ đạt được hiệu quả kinh tế khi đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố. Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa.
Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố giá trị hiện vật đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì phải đồng thời đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố. Bản chất: Khi nghiên cứu về bản chất kinh tế các nhà kinh tế học đã đưa ra những quan điểm khác nhau nhưng đều thống nhất chung bản của nó. Người sản xuất muốn có lợi nhuận thì phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn.
Chúng ta tiến hành so sánh kết quả đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra thì có hiệu quả kinh tế. Sự chênh lệnh này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại. Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng xuất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội là hai mặt của một vấn đề kinh tế. Tuy nhiên hai mặt này có mối quan hệ mật thiết với nhau, gắn liền với quy luật tương ứng của nền kinh tế xã hội, là quy luật tăng năng xuất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt được hiệu quả tối đa về chi phí nhất định hoặc ngược lại, đạt được kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả chi phí để tạo ra nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế Biết được mức độ hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Làm căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất nông nghiệp.
Nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nông nghiệp bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại đạt được hiệu quả kinh tế cao thì tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ. Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế Hiện nay có 3 quan điểm về hiệu quả kinh tế như sau: - Quan điểm 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. H = Q/C Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế Q: Khối lượng sản phẩm thu được C: Chi phí bỏ ra Quan điểm này phản ánh rõ rệt trình độ sử dụng nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả.