CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Tầm quan trọng của cây chè đối với đời sống con người Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Nó là một loại cây trồng có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế và văn hoá con người, sản xuất chè tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu giải khát của đông đảo nhân dân ở nhiều quốc gia.
Chè có nhiều Vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh thường gặp về máu, do đó chè đã trở thành đồ uống phổ thông trên thế giới. Chè còn là một món không thể thiếu trong các dịp lễ hội, các dịp tết, cưới hỏi, ma chay. Trong các dịp đó nếu thiếu đi chè thì bản sắc văn hóa của đất nước có hơn 4000 năm lịch sử cũng bị mất đi. Vì thế đối với các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì cây chè được coi như là truyền thống của dân tộc.
Mặt khác, cây chè là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất miền núi và trung du, những vùng đất cao, khô thoáng. Hơn thế nữa nó còn gắn bó keo sơn ngay cả với những vùng đất đồi dốc khô cằn sỏi đá. Chính vì vậy trồng chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo ra cảnh quan đẹp. Kết hợp trồng chè với trồng rừng sẽ tạo nên những vành đai chống xói mòn, rửa trôi, giữ lại lớp màu mỡ cho đất, cải tạo đất tăng độ phì cho đất bạc màu, góp phần bảo vệ môi trường phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Ngoài ra trồng chè và sản xuất chè còn cần một lực lượng lao động lớn, cho nên nó sẽ tạo ta công ăn việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tạo điều kiện cho việc thu hút và sử dụng lao động, điều hoà lao động được hợp lý hơn. Đồng thời nó còn tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho 6 xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống của khu vực nông thôn, tạo sự thay đổi lớn cho bộ mặt các vùng nông thôn, nhất là trong giai đoạn đổi mới hiện nay, việc phát triển sản xuất chè góp phần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của khu vực nông thôn, nâng cao mức sống của các vùng nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. Tại một số nước thói quen uống nước chè đã tạo thành một nền văn hóa truyền thống, một tập quán. Hiện nay khoa học tiến bộ đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra được một số hoạt chất quý có trong cây chè như: Cafein, Vitamin A, B1.
Đặc biệt trong cây chè còn chứa Vitamin C là loại Vitamin dùng để điều chế thuốc tân dược vì thế chè không những là loại cây giải khát mà chè còn có tên trong danh sách cây y dược. Đối với nước ta, sản phẩm chè không chỉ thoả mãn nhu cầu trong nước, mà còn là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, giúp nước ta có thêm một nguồn ngân sách để đầu tư vào phát triển kinh tế của đất nước, cải thiện nâng cao mức sống của người dân. Xét ở tầm vĩ mô thì xuất khẩu chè cũng như xuất khẩu các mặt hàng khác nó là cơ sở để đẩy mạnh lưu thông buôn bán giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo sự cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng thể nền kinh tế, đồng thời nó tạo nên mối quan hệ bình đẳng, thân thiện, cùng có lợi giữa các nước xuất khẩu, nhập khẩu trên thế giới. Hiện nay chè là loại cây có giá trị xuất khẩu cao ngoài ra tại thị trường trong nước hiện nay cũng đòi hỏi về chất lượng cây chè ngày càng cao.
Phát triển sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ giúp tăng thu nhập cho người nông dân tại một số vùng miền núi do cơ sở vật chất còn thiếu thốn, kỹ thuật thô sơ. Ngoài ra còn có tác dụng phủ xanh đồi trọc bảo vệ sinh thái môi trường. Lực lượng lao động dồi dào, nhân dân ta lại có kinh nghiệm khéo léo trong thu hoạch góp phần tạo được việc làm cho phần đông người lao động chưa có việc làm. Do đó việc phát triển ngành chè trong những năm tới là rất khả thi.
Các nhân tố ảnh hưởng tới việc sản xuất chè hiện nay 1. Đất đai Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và cây chè nói riêng. Đất đai là yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm. Yếu tố đất đai cho phép quyết định chè được phân bố trên những vùng địa hình khác nhau.
Muốn chè có chất lượng cao và hương vị đặc biệt cần phải trồng chè ở độ cao nhất định. Đa số những nơi trồng chè trên thế giới thường có độ cao so với mặt nước biển từ 500 - 800m. So với cây trồng khác cây chè yêu cầu về đất không nghiêm ngặt. Nhưng để cây sinh trưởng tốt, cho năng suất cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: Đất tốt, nhiều mùn, có độ sâu, chua và thoát nước, độ pH thích hợp là 4,5 - 6, đất phải có độ sâu ít nhất là 60cm, mực nước ngầm phải dưới 1m.
Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và chất lượng chè. Chè trồng ở trên núi cao có hương vị thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp, nhưng lại sinh trưởng kém hơn chè được trồng ỏ vùng thấp 1. Khí hậu Cùng với địa hình, đất đai, các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ trong không khí, lượng mưa, thời gian chiếu sáng và sự thay đổi mùa đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng chè. Theo số liệu trồng chè của các nước trên thế giới thì: - Nhiệt độ bình quân thích hợp nhất cho chè là từ 15 - 250C.
- Tổng nhiệt độ hàng năm là 8. - Lượng mưa bình quân hàng năm là 1. - Độ ẩm không khí là 80 - 85%. Tuy nhiên với tính thích nghi rộng và sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện nay có nhiều giống chè chịu rét, chịu hạn được tạo ra.
Cây chè có thể sinh trưởng và phát triển cả ở những nơi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt hơn điều kiện tối ưu trên(Trần Ngọc Ngoạn, 2004). Giống chè Năm 1905, trạm nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên đảo Java. Đến năm 1913, Conhen Stuart đã phân loại các nhóm chè dựa theo hình thái. Tác giả đã đề cập đến vấn đề chọn giống chè theo hướng di truyền sản lượng, đồng thời ông cũng đề ra tiêu chuẩn một giống chè tốt.
Theo ông để chọn được một giống tốt theo phương pháp chọn dòng cần phải trải qua 7 bước. Nghiên cứu vật liệu cơ bản 2. Lựa chọn trong vườn ươm 4. Nhân giống hữu tính và vô tính 5.
Lựa chọn tiếp tục khi thu búp ở các dòng chọn lọc 7. Thử nghiệm thế hệ sau Lựa chọn thế hệ sau được tiến hành theo các đặc tính của tính trạng bên ngoài của cây như: Thân, cành, lá, búp, hoa, quả,… (Lê Tất Khương, 2006). Giống chè ảnh hưởng đến năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả sản suất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Mỗi sản phẩm chè đòi hỏi một nguyên liệu nhất định.
Mỗi vùng, mỗi điều kiện sinh thái lại thích hợp cho một hoặc một số giống chè. Vì vậy, để góp phần đa dạng hóa sản phẩm chè và tận dụng lợi thế so sánh của mỗi vùng sinh thái cần đòi hỏi có một tập đoàn giống thích hợp với điều kiện mỗi vùng. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất chè ở Việt Nam và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường của sản xuất chè cần áp dụng đồng bộ các giải pháp, trong đó nghiên cứu và triển khai giống chè mới là giải pháp rất quan trọng, cần thiết cho việc phát triển cây chè cả về trước mắt và lâu dài. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Không chỉ dừng lại việc tạo ra giống mới mà đưa khoa học vào chế biến sản phẩm chè cũng là điều kiện cần thiết để nâng cao được chất lượng sản phẩm: + Đốn chè Kĩ thuật đốn chè ở Việt Nam đã được đề cập từ lâu, đầu tiên từ những kinh nghiệm của thực tiễn sản xuất.
Trước năm 1945 nhân dân vùng Thanh Ba - Phú Thọ đã có kinh nghiệm đốn chè kinh doanh: “Năm đốn - năm lưu”. Những công trình nghiên cứu về đốn chè ở Trại thí nghiệm chè Phú Hộ - Phú Thọ từ năm 1946 - 1967 đã đi đến kết luận hàng năm đốn chè tốt nhất vào thời gian cây chè ngừng sinh trưởng và đề ra các mức đốn thích hợp cho từng loại hình đốn: Đốn phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết đốn cũ từ 3 - 5cm, khi cây chè cao hơn 70cm thì hàng năm đốn cao hơn vết đốn cũ từ 1 - 2cm. Đốn lửng: Đốn cách mặt đất 60 - 65cm. Đốn dàn: Đốn cách mặt đất 40 - 50cm.
Đốn trẻ lại: Đốn cách mặt đất 10 - 15cm. Nghiên cứu về đốn chè các tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1970), Đỗ Ngọc Quỹ (1980) đều cho thấy: “Đốn chè có tác dụng loại trừ các cành già yếu, giúp cho cây chè luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế ra hoa, kết quả, kích thích hình thành búp non, tạo cho cây chè có bộ khung tán thích hợp vừa tầm hái”. + Bón phân Bón phân cho chè là một biện pháp kĩ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè. Trong quá trình sinh trưởng, phát triển cây chè đã lấy đi một lượng phân rất cao ở trong đất, trong khi đó chè lại thường được trồng ở trên sườn đồi, ở những nơi có địa hình dốc, nghèo chất dinh dưỡng…Cho nên, lượng dinh dưỡng trong đất trồng chè 10 ngày càng bị thiếu hụt.
Chính vì vậy, để đảm bảo cho cây chè sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo được mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho chè là một biện pháp không thể thiếu.