CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm của hiệu quả sản xuất kinh doanh Theo sự phát triển của nền kinh tế, hiện nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh đã được đưa ra. Dưới đây là một sé quan điểm về hiệu quả kinh doanh: Theo Nhà kinh tế học người Anh Adam Smith “Hiệu quả kinh doanh là kết quả trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Nhà kinh tế học người Pháp Ogiephri cũng có quan điểm tương tự. Ở đây hiệu qua được đồng nhất với chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh.
Ta có thể thấy quan điểm này chưa phản ánh toàn diện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, bởi nếu cùng một mức kết quả như nhau nhưng với hai mức chi phí khác nhau thì rõ ràng hiệu quả quả kinh doanh là khác nhau (Trần Quyết Tiến 2013) Theo Wohe và Doring cho rằng: “ Hiệu quả kinh doanh đo được bang hiệu số giữa kết quả đạt được va chi phí bỏ ra để có được kết quả đó.” Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất hiệu quả kinh tế. Nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phi. Tuy nhiên quan điểm này chưa biéu hiện hết được sự tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí, đồng thời chưa phản ánh hết được mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này. Dé phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực chúng ta phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả kinh doanh hoặc là chi phí bỏ ra.
Song theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lénin thì các yêu tố này luôn biến động, vì vậy khi xem xét hiệu quả của một quá trình kinh tế nao đó, phải xem xét trong trạng thái động (Tran Quyết Tiến 2013) Theo quan điểm của các nhà kinh tế học của chủ nghĩa Mac-Lénin cho rằng: “ Hiệu quả kinh doanh là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản xã hội chủ nghĩa, cho rằng quỹ tiêu dùng với tư cách là chỉ tiêu đại điện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp.” Quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu tỉnh thần nhân dân. Khó khăn ở đây là phương tiện đó nói chung và mức sống nói riêng là rất đa dạng và phong phú, có rất nhiều chỉ tiêu mức độ thỏa mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao đời sông nhân dân. Từ các quan điểm trên, ta có thé hiểu rằng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yêu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp nhằm thu được kết quả cao nhất với một chi phí thấp nhất. Hiệu qua sản xuất kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tô chức quản lý kinh doanh mà hiệu quả sản xuất kinh doanh là van đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chính là phản ánh được tình hình sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, đánh giá được hiệu quả của lao động xã hội, thước đo trình độ tiết kiệm các yếu tố đầu vào, nguồn nhân lực xã hội.
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội. Vì vậy, năng suất tối đa với chỉ phí là thấp nhất chính là điều kiện để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, với mục tiêu cuối cùng là của tất cả các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận.3 Vai trò, ý nghĩa của nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như đã trình bày ở trên, mục đích cuối cùng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận hay nói rộng hơn là tăng hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Hiệu quả sản xuất kinh doanh thé hiện được trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất mà biểu hiện cụ thé của nó là lợi nhuận lớn nhất và chi phí nhỏ nhất. Lợi nhuận là khoản còn lại của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi chi phí phát sinh từ doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhờ thu được lợi nhuận, doanh nghiệp mới có điều kiện dé tái sản xuất và tăng quy mô sản xuất. Từ đó không những tăng vị thế, sức mạnh của chính doanh nghiệp, tạo điều kiện để nâng cao đời sống của chính công nhân viên trong doanh nghiệp mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm để phục vụ khách hàng, tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân, góp phần ồn định an sinh xã hội, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ là yêu cầu đối với doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước quản lý đê tìm ra các nhân tô ảnh hưởng đên hiệu quả hoạt động sản xuât kinh doanh, từ đó trang bị các biện pháp phù hợp dé phát huy các nhân tố tích cực, đồng thời giảm thiểu tối đa tác động xấu đến doanh nghiệp của các nhân tố tiêu cực.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu chất lượng tông hợp nó liên quan đến nhiều yếu t6 khác nhau, và nó phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Do đó, khi xem xét hiệu quả kinh doanh cần quán triệt một số quan điểm sau: - Đảm bảo thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, trước hết thê hiện ở việc thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh hay đơn đặt hàng của nhà nước giao cho doanh nghiệp hay là các hợp đồng kinh tế nhà nước đã ký kết với doanh nghiệp, vì đó là nhu cầu và là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, của nền kinh tế hàng hoá. Những nhiệm vụ kinh tế chính trị mà nhà nước giao cho doanh nghiệp trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá, đòi hỏi doanh nghiệp phải quyết định việc sản xuất và bán những hàng hoá thị trường cần, nền kinh tế cần, chứ không phải hàng hoá bản thân doanh nghiệp có. - Bảo đảm tính toàn diện và hệ thống trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này đòi hỏi nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát và đảm bảo yêu cầu nâng cao hiệu quả nền kinh tế xã hội, của ngành, của địa phương và cơ sở.
Hơn nữa trong từng đơn vị cơ sở khi xem xét đánh giá hiệu quả kinh doanh phải COI frong tất cả các hoạt động, các lĩnh vực, các khâu của quá trình kinh doanh và phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ, các tác động qua lại của các tổ chức, các lĩnh vực trong một hệ thống theo mục tiêu đã xác định. - Đảm bảo tính thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này đòi hỏi khi đánh giá và xác định mục tiêu biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ đặc điểm, điều kiện kinh tế xã hội của ngành, của địa phương của doanh nghiệp trong từng thời kì. Chỉ có như vậy, chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh, phương án kinh doanh của doanh nghiệp mới có đủ cơ sở khoa học thực hiện, đảm bảo lòng tin của người lao động, hạn chế rủi ro, tôn that.
- Phải căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá tri dé đánh giá hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này đòi hỏi khi tính toán đánh giá hiệu quả một mặt phải căn cứ vào số lượng hàng hoá đã tiêu thụ và giá trị thu nhập của những hàng hoá đó theo giá cả thị trường, mặt khác phải tính toán đủ chi phí đã chi ra dé sản xuất và tiêu thụ hàng hoá đó. Căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá trị đó là đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra còn đòi hỏi các nhà kinh doanh phải tính toán đúng dan hop lý lượng hang hoá mua vào cho quá trình kinh doanh tiếp theo.
Điều đó còn cho phép đánh giá đúng đắn khả năng thoả mãn nhu cầu của thị trường về hàng hoá và dịch vụ theo cả giá trị và hiện vật tức là cả giá trị sử dụng và giá trị hàng hoá mà thị trường cần. e _ Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa trên nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu bằng cách so sánh giữa kết quả kinh tế và chi phí kinh tế, chúng ta có thé lập được một bảng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể phân các chỉ tiêu thành hai nhóm chỉ tiêu đó là: nhóm các chỉ tiêu tông hợp và nhóm các chỉ tiêu bộ phận.
*Các chỉ tiêu sử dụng đánh giá khả năng sinh lời: -Ty suất sinh lời của vốn chủ sé hữu (ROE): Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu bình quân x 100 Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. -Ty suất sinh lời của Tài sản (ROA): Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế/Tài sản bình quân x 100 Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng tài sản đầu tư thì thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. -Ty suất sinh lời của Doanh thu (ROS): Tỷ suất sinh lời của Doanh thu (ROS) = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng Doanh thu (doanh thu thuần) x 100 Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp thu được 100 đồng doanh thu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. *Chỉ tiêu về co cầu vốn Hệ số nợ/ Tổng tài sản Hệ số nợ = Tổng no/ tong tài sản Hệ số nợ đo lường mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp so với tài san.
Nếu tỷ số này quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao.