CHƯƠNG I DỰ ÁN CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH. DỰ ÁN CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH. Nghị định thư Kyoto và Cơ chế phát triển sạch 1.Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto Biến đổi khí hậu đã và đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia công nghiệp hoá phát triển cũng như các nước đang phát triển trên toàn Thế giới, không chỉ do các tác động của biến đổi khí hậu đã gây ra nóng lên toàn cầu, làm băng ở hai cực tan ra, nước biển dâng và gây ra không ít các cơn bão lớn trong thời gian vừa qua mà còn do hàng loạt các mối đe doạ tiềm tàng trong tương lai. Một trong cỏc nguyờn chớnh gây nên biến đổi khí hậu là do phát thải khí nhà kính từ quá trình tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch trong đời sống và hoạt động sản xuất công nghiệp.
Như vậy có thể khẳng định việc cắt giảm khí thải nhà kính là vấn đề mang tính toàn cầu đặc biệt là đối với các quốc gia sử dụng nhiều nhiên liệu hoá thạch, chủ yếu là các nước công nghiệp hoá. Các nỗ lực cắt giảm, các cuộc đàm phán nhằm xây dựng điều ước quốc tế về bảo vệ khí hậu toàn cầu đã được bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỉ XX. Tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Môi trường và phát triển ở Rio de Janeiro, Brazil, 155 quốc gia trong đó có Việt Nam đã ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) nhằm ngăn chặn những hiểm hoạ do biến đổi khí hậu gây ra và mục tiêu cuối cùng của Công ước là nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính trong Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khí quyển ở mức an toàn. Công ước phân chia các nước thành hai nhúm: cỏc Bờn thuộc Phụ lục I – các nước công nghiệp hoá, là các nước chủ yếu gây ra biến đổi khí hậu và cỏc Bờn khụng thuộc Phụ lục I – gồm phần lớn là các nước đang phát triển.
Trong các cuộc đàm phán về Công ước biến đổi khí hậu, các Bên tham gia Công ước thấy rằng cần phải có những sự cam kết mạnh mẽ và cụ thể hơn của các nước công nghiệp hoá để giải quyết một cách tích cực biến đổi khí hậu. Hội nghị cỏc Bờn của Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP) đã thông qua Nghị định thư Kyoto tại COP -3 tổ chức ở Kyoto, Nhật Bản năm 1997. Nghị định thư bao gồm các chỉ tiêu phát thải khí nhà kính có ràng buộc nghĩa vụ pháp lý đối với cỏc Bờn thuộc Phụ lục I, trong thời kỳ cam kết đầu tiên 2008 – 2012 đạt phát thải khí nhà kính thấp hơn mức năm 1990 khoảng 5,2%. Một quyết đinh quan trọng khác là việc đưa ra các cơ chế Kyoto, bao gồm Đồng thực hiện (JI), Cơ chế phát triển sạch (CDM) và Mua bán phát thải (ET).
Chính phủ Việt Nam đã chính thức phê chuẩn Nghị định thư Kyoto của UNFCCC vào ngày 25 tháng 09 năm 2003.Các cơ chế Kyoto và cơ chế phát triển sạch Một trong những nét nổi bật của Nghị định thư Kyoto là việc áp dụng các cơ chế Kyoto, còn được gọi là “cỏc cơ chế linh hoạt” nhằm giỳp cỏc nước công nghiệp hoỏ (cỏc Bờn thuộc Phụ lục I) giảm chi phí trong việc đáp ứng chỉ tiêu giảm phát thải của mình bằng việc đạt được giảm phát thải với chi phí thấp nhất tại các nước khác hơn là Cơ chế Đồng thực hiện (JI) được định nghĩa tại Điều 6 của Nghị định thư, Cơ chế phát triển sạch (CDM) được định nghĩa tại Điều 12 của Nghị định thư và Mua bán phát thải (ET) được định nghĩa tại Điều 17 của Nghị định thư. Đồng thực hiện (JI) cho phép các nước nhận được tín dụng đối với các giảm phát thải do đầu tư tại các nước công nghiệp hoỏ khỏc. Cỏc mức giảm Chuyên đề thực tập tốt nghiệp carbon được chứng nhận do JI tạo ra được gọi là các đơn vị giảm phát thải (ERUs). Các nước đầu tư có thể sử dụng các đơn vị ERU để đạt được các chỉ tiêu giảm phát thải GHG của nước mình, và do thực hiện một dự án JI nên lượng tính bằng đơn vị ERU sẽ được khấu trừ từ lượng phát thải chỉ định của nước chủ nhà.
Mua bán phát thải (ET) cho phép các nước chuyển giao phần “phỏt thải cho phộp” của mình, tức là các đơn vị định lượng đã được ấn định. Cơ chế phát triển sạch (CDM) cho phép các dự án giảm phát thải hỗ trợ phát triển bền vững ở các nước đang phát triển thu được các CER –giảm phát thải được chứng nhận cho chủ đầu tư, thường là các quốc gia công nghiệp hoá. Theo Nghị định thư Kyoto, mục đích của CDM là giỳp cỏc Bờn khụng thuộc Phụ lục I đạt được sự phát triển bền vững, đóng góp vào mục tiêu cao nhất của Công ước và giỳp cỏc Bờn thuộc Phụ lục I đạt được tuân thủ các chỉ tiêu giảm phát thải GHG của nước mình. Do vậy, các cơ chế này cung cấp cho các nước cũng như các công ty tư nhân cơ hội giảm phát thải ở mọi nơi trên Thế giới, với chi phí thấp nhất, và được tính lượng giảm phát thải này vào chỉ tiêu của mình.
Bản chất và chu trình dự án Cơ chế phát triển sạch 1. Dự án cơ chế phát triển sạch Dự án đáp ứng cơ chế phát triển sạch gọi là dự án cơ chế phát triển sạch. Các dự án Cơ chế phát triển sạch (và từ đây gọi tắt là dự án CDM) có thể được hiểu như những dự án bảo vệ khí hậu ở hầu hết các nước đang phát triển (cỏc Bờn khụng thuộc Phụ lục I) nhằm đạt được những CER – giảm phát thải được chứng nhận để có thể bán cho các nước hạn chế về mục tiêu giảm phát thải, là cỏc Bờn thuộc Phụ lục I. Các CER cùng với Chuyển giao công nghệ đặc biệt là các công nghệ thân thiện với môi trường và khí hậu tạo nên sự khác biệt cho các dự án CDM so với các dự án đầu tư thông thường khỏc.
Cỏc dự án CDM phải được tất cả các Bên có liên quan phê duyệt, phải mang lại sự phát triển bền vững tại nước chủ nhà và đạt được các lợi ích thực, có thể Chuyên đề thực tập tốt nghiệp đo lường được và dài hạn liên quan đến giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Các giảm phát thải phải đảm bảo tính bổ sung tức là phải bổ sung vào bất kỳ sự giảm phát thải nào đạt được mà không có hoạt động dự án. Một điểm đặc biệt của dự án CDM nữa là tất cả các Bên phải đáp ứng ba yêu cầu cơ bản là: tự nguyện tham gia vào CDM, thành lập Cơ quan quốc gia về CDM và phải phê chuẩn Nghị định thư Kyoto. Ngoài ra các quốc gia công nghiệp hoỏ cũn phải đáp ứng thêm một số điều kiện khác nữa như thành lập lượng giảm phát thải theo chỉ định tại Điều 3 của Nghị định thư và hệ thống quốc gia ước tính GHGs quốc gia, đăng ký quốc gia, kiểm kê hàng năm và hệ thống tính toán việc mua bán CERs.
Dự án CDM bao gồm các dự án thuộc các lĩnh vực sau: Nâng cao hiệu quả năng lượng sử dụng cuối. Nâng cao hiệu quả cung cấp năng lượng. Chuyển đổi nhiên liệu. Năng lượng tái tạo.
Các quá trình công nghiệp (CO2 từ sản xuất xi măng, HFCs, PFCs, SF6,…) Các dự án bể hấp thụ (đối với trồng rừng và khôi phục rừng). Chu trình của dự án CDM Chu trình dự án CDM gồm bảy giai đoạn cơ bản là: Thiết kế và xây dựng dự án, Phê duyệt quốc gia, Phê chuẩn và đăng ký, Tài chính của dự án, Giám sát, Thẩm tra /chứng nhận và Ban hành CERs. Bốn giai đoạn đầu được tiến hành trước khi thực hiện dự án còn ba giai đoạn sau được tiến hành trong suốt thời gian thực hiện dự án. + Thiết kế và xây dựng dự án: Xác định và xây dựng dự án CDM tiềm năng là bước đầu tiên trong chu trình dự án CDM.
Dự án CDM phải đảm bảo tính thực tế, có khả năng đo lường được và phải mang tính bổ sung. Tính bổ Chuyên đề thực tập tốt nghiệp sung thể hiện qua việc phát thải của dự án được so sánh với phát thải của trường hợp tham chiếu hợp lý, được coi là đường cơ sở. Theo Thoả thuận Marrakech, các phương pháp luận đường cơ sở có thể được thực hiện theo ba hướng tiếp cận: Cỏc phát thải hiện tại hoặc trong quá khứ phù hợp. Cỏc phát thải từ công nghệ do đầu tư thân thiện với môi trường.
Cỏc phát thải trung bình của các hoạt động dự án tương tự đã được tiến hành trong vòng năm năm trước trong cùng điều kiện và các hoạt động đó thuộc mức cao của 20% tổng các loại dự án. Sản phẩm cần có của giai đoạn này là Văn kiện thiết kế dự án (PDD), do các bên tham gia dự án soạn thảo, theo hướng dẫn của Ban điều hành CDM (EB). Văn kiện thiết kế dự án bao gồm: Mô tả chung về hoạt động dự án, Phương pháp luận đường cơ sở, Các biện pháp /kế hoạch giám sát, Tính toán cỏc phỏt thải GHG theo nguồn, Báo cáo tác động môi trường và Đóng góp ý kiến của các bên tham gia dự án. Văn kiện PDD là văn bản chính thức bao gồm phần diễn giải kỹ thuật và tổ chức của các bên tham gia dự án và công khai trước công chúng.
+ Phê duyệt quốc gia: Sau khi hoàn thiện Văn kiện thiết kế dự án với các nội dung phù hợp, các bên tham gia dự án, của các nước đầu tư cũng như nước chủ nhà có thể xin phép Chính phủ nước mình phê duyệt dự án bằng văn bản. Các nước muốn tham gia CDM phải thành lập Cơ quan Quốc gia về CDM (DNA) để đánh giá, phê duyệt các dự án và đồng thời là đầu mối để liên hệ. Các nước đang phát triển cũng có trách nhiệm xác định các tiêu chí quốc gia về phê duyệt dự án. Cơ quan quốc gia về CDM phải công bố các văn bản xác nhận về sự tự nguyện tham gia của Chính phủ, đồng thời khẳng định hoạt động dự án hỗ trợ nước chủ nhà đạt được sự phát triển bền vững.