Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phác đồ hóa xạ trị với kỹ thuật PET/CT

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phác đồ hóa xạ trị với kỹ thuật pet ct, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ung thư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2017

167
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý học của phổi

1.2. Cây phế quản

1.3. Động mạch phổi

1.4. Tĩnh mạch phổi

1.5. Động mạch và tĩnh mạch phế quản

1.6. Thần kinh của phổi

1.7. Hệ bạch huyết của phổi

1.8. Màng phổi và khoang màng phổi

1.9. Liên quan với trung thất và thành ngực

1.10. Dịch tễ học

1.11. Các phương pháp chẩn đoán UTPKTBN

1.12. Chẩn đoán lâm sàng

1.13. Các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng

1.14. Chẩn đoán mô bệnh học: UTPKTBN gồm các thể chính sau

1.15. Chẩn đoán giai đoạn theo TNM

1.16. Các phương pháp điều trị UTPKTBN

1.17. Vai trò của phẫu thuật trong điều trị UTPKTBN

1.18. Vai trò của xạ trị trong điều trị UTPKTBN

1.19. Điều trị hoá chất UT phổi không tế bào nhỏ

1.20. Vai trò của điều trị đích

1.21. Liệu pháp miễn dịch

1.22. Một số nghiên cứu và quan điểm về điều trị UTPKTBN không mổ được

1.23. Phẫu thuật hay hóa xạ trị cho UTPKTBN giai đoạn IIIN2?

1.24. Các cách thức phối hợp hóa xạ trị

1.25. Độc tính của hoá-xạ trị đồng thời

1.26. Lựa chọn phác đồ hóa chất nào thích hợp cho hóa xạ đồng thời

1.27. Hoá chất Paclitaxel và Carboplatin

1.28. Vấn đề nâng cao liều xạ và kỹ thuật xạ trị IFRT

1.29. Hóa xạ trị đồng thời với PET/CT mô phỏng

1.30. Tình hình nghiên cứu UTPKTBN không mổ được tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Trang thiết bị kỹ thuật

2.4. Quy trình lập kế hoạch xạ trị với kỹ thuật PET/CT mô phỏng

2.5. Quy trình phối hợp hoá chất và xạ trị

2.6. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.7. Thu thập, phân tích, xử lý số liệu

2.8. Nội dung nghiên cứu cụ thể

2.9. Với mục tiêu số 1

2.10. Với mục tiêu số 2

2.11. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm bệnh nhân

3.2. Giá trị của PET/CT trong lập kế hoạch xạ trị ung thư phổi

3.3. Đặc điểm điều trị

3.4. Độc tính trên hệ tạo huyết, gan và thận

3.5. Độc tính ngoài huyết học, gan thận

3.6. Kết quả điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng

4.2. Tuổi và giới

4.3. Chỉ số hoạt động cơ thể

4.4. Tình trạng gầy sút cân trước điều trị

4.5. Đặc điểm mô bệnh học

4.6. Giai đoạn bệnh

4.7. Giá trị của PET/CT trong lập kế hoạch xạ trị

4.8. Bàn luận về phương pháp điều trị và tính an toàn

4.9. Về phác đồ hóa chất

4.10. Về xạ trị

4.11. Về độc tính hóa xạ trị

4.12. Kết quả điều trị

4.13. Đáp ứng điều trị

4.14. Tỷ lệ kiểm soát tại chỗ, thời gian và tỷ lệ sống thêm

4.15. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

4.16. Phân tích sống thêm theo phương pháp điều trị của nghiên cứu

4.17. Hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá hiệu quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

Ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) là một trong những loại ung thư phổ biến nhất và có tỷ lệ tử vong cao. Việc đánh giá hiệu quả điều trị cho bệnh nhân UTPKTBN là rất quan trọng để cải thiện chất lượng cuộc sống và tỷ lệ sống sót. Phương pháp điều trị chính bao gồm hóa trị và xạ trị, thường được kết hợp với nhau để đạt được hiệu quả tối ưu. Kỹ thuật PET/CT đã được áp dụng để hỗ trợ trong việc lập kế hoạch điều trị và theo dõi đáp ứng điều trị.

1.1. Đặc điểm của ung thư phổi không tế bào nhỏ

UTPKTBN chiếm khoảng 85% tổng số ca ung thư phổi. Đặc điểm lâm sàng của bệnh thường phức tạp, bao gồm triệu chứng như ho, khó thở và đau ngực. Việc chẩn đoán sớm và chính xác là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị.

1.2. Tình hình điều trị ung thư phổi hiện nay

Phác đồ điều trị cho UTPKTBN thường bao gồm hóa trị và xạ trị. Hóa trị có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư, trong khi xạ trị giúp kiểm soát khối u tại chỗ. Việc kết hợp hai phương pháp này đã cho thấy hiệu quả cao trong nhiều nghiên cứu.

II. Thách thức trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị, nhưng việc điều trị UTPKTBN vẫn gặp nhiều thách thức. Tỷ lệ tái phát cao và độc tính của hóa xạ trị là những vấn đề cần được giải quyết. Nhiều bệnh nhân không thể tiếp nhận phác đồ điều trị do tình trạng sức khỏe yếu hoặc các bệnh lý đi kèm.

2.1. Tỷ lệ tái phát sau điều trị

Tỷ lệ tái phát tại chỗ sau khi điều trị hóa xạ trị cho UTPKTBN vẫn còn cao, từ 34-43%. Điều này cho thấy cần có những biện pháp cải thiện trong việc lập kế hoạch điều trị và theo dõi bệnh nhân.

2.2. Độc tính của hóa xạ trị

Độc tính của hóa xạ trị có thể gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Việc lựa chọn phác đồ hóa chất phù hợp và kỹ thuật xạ trị an toàn là rất cần thiết.

III. Phương pháp hóa xạ trị trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

Phương pháp hóa xạ trị đồng thời đã được chứng minh là có hiệu quả cao trong điều trị UTPKTBN. Kỹ thuật này giúp tăng cường tác dụng của xạ trị và giảm thiểu nguy cơ tái phát. Việc áp dụng kỹ thuật PET/CT trong lập kế hoạch điều trị cũng đã cho thấy nhiều lợi ích.

3.1. Hóa trị và xạ trị đồng thời

Hóa trị đồng thời với xạ trị giúp tăng cường hiệu quả điều trị, giảm thiểu kích thước khối u và cải thiện tỷ lệ sống sót. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phác đồ hóa xạ đồng thời cho tỷ lệ đáp ứng cao hơn so với hóa trị đơn thuần.

3.2. Kỹ thuật PET CT trong lập kế hoạch điều trị

Kỹ thuật PET/CT giúp xác định chính xác tình trạng khối u và di căn, từ đó lập kế hoạch điều trị hiệu quả hơn. Việc sử dụng PET/CT đã giúp giảm thiểu bỏ sót tổn thương và nâng cao an toàn trong điều trị.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng phác đồ hóa - xạ trị với kỹ thuật PET/CT mô phỏng đã mang lại kết quả khả quan. Tỷ lệ sống thêm và kiểm soát tại chỗ được cải thiện đáng kể so với các phương pháp điều trị truyền thống.

4.1. Tỷ lệ sống thêm và kiểm soát tại chỗ

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống thêm trung bình của bệnh nhân UTPKTBN điều trị bằng phác đồ hóa - xạ trị với PET/CT cao hơn so với các phương pháp khác. Tỷ lệ kiểm soát tại chỗ cũng được cải thiện rõ rệt.

4.2. Đánh giá độc tính và tác dụng phụ

Mặc dù phác đồ hóa - xạ trị có hiệu quả cao, nhưng độc tính vẫn là vấn đề cần được quan tâm. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc lựa chọn phác đồ hóa chất phù hợp có thể giảm thiểu tác dụng phụ cho bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

Việc đánh giá hiệu quả điều trị UTPKTBN bằng hóa xạ trị và kỹ thuật PET/CT đã mở ra nhiều triển vọng mới trong điều trị ung thư. Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện phương pháp điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

5.1. Tương lai của điều trị ung thư phổi

Tương lai của điều trị UTPKTBN sẽ tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới, cải thiện kỹ thuật chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân. Việc áp dụng công nghệ mới như AI và machine learning có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị.

5.2. Nhu cầu nghiên cứu thêm

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về hiệu quả của các phác đồ điều trị khác nhau và tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Điều này sẽ giúp cải thiện chiến lược điều trị cho bệnh nhân UTPKTBN.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phác đồ hóa xạ trị với kỹ thuật pet ct mô phỏng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi (UTP) không những là bệnh ung thư phổ biến nhất mà còn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Năm 2012, trên toàn cầu số người mới mắc ung thư khoảng 14,1 triệu trong đó ung thư phổi chiếm 1,8 triệu (13% tổng số ung thư); số tử vong hàng năm do ung thư là 8,2 triệu thì riêng UTP chiếm 1,6 triệu (khoảng 19,4% tổng số chết do ung thư) [1]. Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở cả hai giới, tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ khoảng 16,8% [2]. Với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao, ung thư phổi thực sự là vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Về thực hành lâm sàng, UTP được chia làm 2 nhóm chính là ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm khoảng 15% và ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) chiếm khoảng 85%. Hai nhóm này có phương pháp điều trị và tiên lượng khác nhau [3],[4]. Trong luận án này, chúng tôi chỉ giới hạn vào UTPKTBN tiến triển tại chỗ, tại vùng không mổ được, chiếm khoảng 25 - 30% UTP tại thời điểm chẩn đoán, bao gồm giai đoạn IIIB (mọi T, N3M0 và T4N2M0), giai đoạn IIIA không mổ được (T1-3,N2M0 và T4N0-1M0) [5]. Đối với giai đoạn này, phương pháp điều trị đã được thế giới đồng thuận là xạ trị kết hợp với hóa chất [2],[6].

Việc phối hợp hoá xạ trị có hai ý nghĩa, một là hoá chất làm tăng tác dụng của xạ trị, điều này đã được minh chứng qua nhiều nghiên cứu [7],[8],[9]; hai là hoá chất có tác dụng tiêu diệt các ổ vi di căn xa mà các phương tiện chẩn đoán có thể chưa phát hiện được. Trong các hình thức phối hợp hoá xạ trị thì phác đồ hoá xạ đồng thời sau đó hoá trị củng cố cho tỷ lệ đáp ứng cao nhất [2],[5],[6],[10]. Tuy phương pháp hoá xạ đồng thời làm tăng khả năng kiểm soát tại chỗ, nhưng tỷ lệ tái phát tại chỗ vẫn còn cao từ 34-43% [10]. Nhiều nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 gần đây cho thấy tỷ lệ kiểm soát tại chỗ tỷ lệ thuận với liều xạ, tuy nhiên biến chứng do xạ trị cũng tăng theo [2],[5].

Hiện nay, xạ trị UTPKTBN có 2 kỹ thuật còn đang tranh cãi: kỹ thuật xạ trị hệ thống và kỹ thuật xạ trị khu trú. Với kỹ thuật xạ trị hệ thống, xạ trị ban đầu 40 – 50 Gy vào u, hạch di căn và toàn bộ hệ thống hạch trung thất, hạch thượng đòn, sau đó mới thu nhỏ trường chiếu và tăng liều vào u và hạch di căn, do vậy thể tích chiếu xạ ban đầu rất rộng, khó khăn cho việc nâng liều xạ trị. Trong khi đó, với kỹ thuật xạ trị khu trú, thể tích bia chỉ bao gồm u và hạch di căn, không dự phòng hạch hệ thống. Nhiều nghiên cứu đã minh chứng, kỹ thuật xạ khu trú có tỷ lệ kiểm soát bệnh tương đương nhưng độc tính thấp hơn hẳn so với kỹ thuật xạ trị hệ thống [2],[11],[12].

Tuy nhiên, kỹ thuật xạ trị khu trú có thể bỏ sót tổn thương nhỏ, với kỹ thuật PET/CT mô phỏng có thể xác định chính xác hơn tình trạng u, đặc biệt tình trạng di căn hạch, giảm thiểu bỏ sót tổn thương đồng thời loại trừ tia vào tổ chức lành mà trên CT nhiều khi khó phân biệt giúp nâng cao hiệu quả và an toàn trong điều trị. Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về các vấn đề trên nhưng tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này do kỹ thuật chụp PET/CT mới được triển khai trong thời gian gần đây, chính vì vậy tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá kết quả điều trị ung thƣ phổi không tế bào nhỏ bằng phác đồ hoá - xạ trị với kỹ thuật PET/CT mô phỏng" với 2 mục tiêu: 1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tổn thương PET/CT mô phỏng bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIA không mổ được và giai đoạn IIIB. Đánh giá kết quả điều trị phác đồ Paclitaxel-Carboplatin và xạ trị với kỹ thuật PET/CT mô phỏng bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIA không mổ được và giai đoạn IIIB.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý học của phổi Phổi là cơ quan chủ yếu của hệ hô hấp, là nơi trao đổi khí trực tiếp giữa máu và không khí. Phổi được tạo nên từ toàn bộ các nhánh phân chia trong phổi của phế quản gốc (cây phế quản), động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, bạch huyết và các sợi thần kinh của đám rối phổi; mô liên kết xen giữa các thành phần trên và bao quanh phổi [13],[14]. Cây phế quản Cây phế quản được hình thành bắt đầu từ khí quản đến ngang gian đốt sống ngực D4-D5 thì phân chia thành hai là phế quản gốc phải và phế quản gốc trái, chỗ chia đôi gọi là carina.

Phế quản gốc bên phải rất ngắn chỉ 15 - 18 mm và có đường kính 12 - 16 mm, chạy chếch xuống dưới rồi tách ra thành phế quản thùy trên và phế quản trung gian, phế quản trung gian chạy chếch xuống dưới khoảng 10 mm rồi tách ra hai nhánh là phế quản thùy giữa và phế quản thùy dưới. Vì vậy trong UTP khi các khối u nằm ở thùy trên phổi phải hoặc u ở phế quản trung gian có xâm lấn phế quản gốc thì việc cắt bỏ toàn bộ phổi phải cũng khó đảm bảo tính triệt để (diện cắt theo khuyến cáo ≥ 20 mm). Hơn nữa, chức năng hô hấp của phổi phải chiếm đến 60 – 65%, phổi trái chỉ chiếm 35 – 40% nên nếu cắt toàn bộ phổi phải sẽ khó đảm bảo được chức năng hô hấp. Trong những trường họp này, hóa xạ triệt căn thường được đặt ra [15].

Phế quản gốc trái thường dài hơn, nhỏ hơn và nằm ngang hơn so với phế quản gốc phải, có chiều dài khoảng 40 - 50 mm, đường kính từ 10 - 14 mm. Nằm sâu trong trung thất và bị che khuất bởi quai động mạch (ĐM) chủ và thân ĐM phổi, phía sau liên quan tới ĐM chủ ngực và thực quản, rồi chia ra thành phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới. Khi thực hiện cắt thùy trên phổi trái, việc kiểm soát các mạch máu chi phối sẽ phức tạp hơn bên phải do LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 việc che khuất của quai ĐM chủ và thân ĐM phổi [15],[16],[17]. Còn khi xạ trị những khối u vị trí này, các cơ quan lành xung quanh chịu độc tính là tim, thực quản làm giới hạn liều, gây khó khăn cho việc xạ trị [5],[7].

Mỗi phế quản thùy lại chia ra thành các phế quản phân thùy, hạ phân thùy… nhỏ dần và cuối cùng đến tiểu phế quản hô hấp, rồi ống phế nang, túi phế nang (thế hệ cấp 1 đến cấp 23). Chỉ từ tiểu phế quản hô hấp trở đi cho đến các phế nang (từ thế hệ 17- 23) mới là phần phổi có tham gia vào chức năng hô hấp, còn 16 thế hệ đầu tiên của cây phế quản cùng với khí quản chỉ là vùng không khí đi qua nên gọi là “khoảng chết” có thể tích từ 150- 200 cm³. Ở mỗi người có khoảng 300 triệu phế nang và diện tích tiếp xúc giữa phế nang và mao mạch khoảng 70-120 m2 tuỳ theo thì hô hấp là thở ra hay hít vào [18].2 Động mạch phổi Có hai động mạch phổi phải và trái tách ra từ thân động mạch phổi. Động mạch phổi phải chạy ngang sang phải, qua rốn phổi, bắt chéo mặt trước phế quản chính phải ngay dưới phế quản thùy trên.

Động mạch phổi trái nhỏ hơn và ngắn hơn, chạy chếch lên trên sang trái bắt chéo mặt trước phế quản chính trái ở phía trên phế quản thùy trên. Vào trong phổi, cả hai động mạch chạy xoắn quanh thân phế quản chính và cũng phân chia thành các nhánh thùy, các nhánh cho phân thùy rồi lại tiếp tục phân chia nhỏ dần cho tới mạng mao mạch quanh phế nang [13],[16].3 Tĩnh mạch phổi Các lưới mao mạch quanh phế nang tập trung dần để đổ vào các tĩnh mạch quanh tiểu thùy, các tĩnh mạch nhỏ hợp nên các tĩnh mạch lớn dần, cuối cùng tạo thành hai tĩnh mạch phổi trên và dưới ở mỗi bên và đổ vào tâm nhĩ trái [13],[16].4 Động mạch và tĩnh mạch phế quản - Động mạch nuôi dưỡng cho cho cây phế quản và mô phổi là các nhánh phế quản, nhánh của động mạch chủ ngực. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Tĩnh mạch phế quản. Các tĩnh mạch sâu dẫn máu từ trong phổi đổ vào tĩnh mạch phổi, còn các tĩnh mạch nông dẫn máu từ phế quản ngoài phổi và màng phổi tạng đổ vào tĩnh mạch đơn và bán đơn phụ [13],[14],[16].

Thần kinh của phổi Gồm những nhánh của đám rối phổi chạy theo phế quản chính, tạo thành một mạng lưới quây xung quanh phế quản, qua rốn phổi vào phổi chi phối cho các cơ, niêm mạc của phế quản và cho các phế nang. Tĩnh mạch cảnh trong 2. Thần kinh lang thang phải 3. TK thanh quản quặt ngược phải 5.

Thân tay đầu 6. Chỗ chia đôi của khí quản 8. Thần kinh hoành phải 9. Tĩnh mạch chủ dưới 10.

Động mạch dưới đòn trái 12. Động mạch cảnh chung trái 13. Thần kinh lang thang trái 14. Cung động mạch chủ 15.

Đám rối thực quản 17. Động mạch chủ ngực 18. Thần kinh hoành trái 19. Ngoại tâm mạc phủ lên cơ hoành 20.

Động mạch phổi phải 21. Động mạch phổi trái 22. Các hạch bạch huyết khí quản 23. Các hạch bạch huyết khí phế quản trên 24.

Các hạch bạch huyết phế quản Hình 1. Hình ảnh cây phế quản và sự liên quan trong trung thất [16] 1. Hệ bạch huyết của phổi Hệ bạch huyết của phổi rất phong phú. Hiện nay, người ta đã xác định được rất rõ bản đồ hạch và những mạch bạch huyết dẫn lưu giữa các hạch, xác định được 14 nhóm hạch vùng được qui ước từ số 1 đến số 14.

Trong bản đồ từ nhóm 1- 9 là các nhóm hạch nằm trong trung thất được xếp N2, từ nhóm 10- 14 là các nhóm hạch nằm tại phổi được xếp N1, từ đó chia ra các giai đoạn bệnh, tiên lượng bệnh và xác định khả năng nạo vét hạch trong phẫu thuật [19], [20] (hình 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ