Luận án tiến sĩ: Đánh giá kết quả điều trị mất răng Kennedy I và II bằng hàm khung có khớp nối Preci

Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả điều trị mất răng Kennedy I và II bằng hàm khung kết hợp khớp nối Preci, mang lại giải pháp tối ưu cho bệnh nhân.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án
193
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Phân loại mất răng

1.2. Phân loại mất răng theo Kennedy có bổ sung bởi Applegate

1.3. Phục hình hàm khung

1.3.1. Ưu điểm

1.3.2. Nhược điểm

1.3.3. Chỉ định

1.3.4. Chống chỉ định

1.4. Lịch sử phục hình hàm khung

1.5. Hợp kim đúc khung

1.5.1. Yêu cầu của hợp kim đúc

1.5.2. Bảng so sánh các đặc tính của các hợp kim thường dùng để đúc khung

1.6. Các thành phần cấu tạo của hàm khung

1.6.1. Khung (Thanh nối chính)

1.6.1.1. Nối chính hàm trên
1.6.1.2. Nối chính hàm dưới

1.6.2. Yên

1.6.3. Tựa mặt nhai

1.6.4. Thanh nối phụ

1.6.5. Móc răng

1.7. Khớp nối với hàm khung

1.7.1. Đặc điểm của khớp nối

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu quả điều trị mất răng Kennedy I và II bằng hàm khung Preci

Mất răng là một vấn đề phổ biến, đặc biệt ở người lớn tuổi. Việc điều trị mất răng loại Kennedy I và II bằng hàm khung Preci đã trở thành một giải pháp hiệu quả. Hàm khung Preci không chỉ giúp phục hồi chức năng ăn nhai mà còn cải thiện thẩm mỹ cho bệnh nhân. Nghiên cứu này sẽ đánh giá hiệu quả của phương pháp này trong việc điều trị mất răng.

1.1. Định nghĩa và phân loại mất răng Kennedy

Mất răng Kennedy được phân loại thành bốn loại chính. Loại I và II là những loại phổ biến nhất, ảnh hưởng lớn đến chức năng ăn nhai. Việc hiểu rõ về các loại mất răng này là rất quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp điều trị.

1.2. Tại sao chọn hàm khung Preci

Hàm khung Preci được thiết kế để tối ưu hóa lực nhai và cải thiện sự thoải mái cho bệnh nhân. So với các phương pháp khác, hàm khung Preci có nhiều ưu điểm vượt trội, bao gồm khả năng chịu lực tốt và tính thẩm mỹ cao.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị mất răng Kennedy I và II

Mặc dù hàm khung Preci mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong quá trình điều trị. Các vấn đề như lực tác động lên răng trụ và sự tiêu xương vùng mất răng cần được xem xét kỹ lưỡng. Việc thiết kế khung sườn và các phương tiện lưu giữ là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị.

2.1. Các vấn đề thường gặp khi sử dụng hàm khung

Một số bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc thích nghi với hàm khung Preci. Các vấn đề như cảm giác không thoải mái và khó khăn trong việc ăn nhai có thể xảy ra. Cần có sự tư vấn và hướng dẫn cụ thể để giúp bệnh nhân vượt qua những khó khăn này.

2.2. Tác động của hàm khung đến răng trụ

Hàm khung Preci có thể tạo ra lực tác động lên răng trụ, dẫn đến nguy cơ tổn thương cho các răng này. Việc thiết kế khung sườn cần phải tính toán kỹ lưỡng để giảm thiểu tác động tiêu cực đến răng trụ.

III. Phương pháp điều trị hiệu quả với hàm khung Preci

Để đạt được hiệu quả tối ưu trong điều trị mất răng Kennedy I và II, việc áp dụng các phương pháp điều trị đúng cách là rất quan trọng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng hàm khung Preci kết hợp với các kỹ thuật phục hình hiện đại có thể mang lại kết quả tốt.

3.1. Thiết kế khung sườn tối ưu

Thiết kế khung sườn cần phải đảm bảo tính ổn định và khả năng chịu lực tốt. Việc sử dụng các khớp nối chính xác giúp cải thiện hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác động lên răng trụ.

3.2. Kỹ thuật lắp đặt hàm khung Preci

Kỹ thuật lắp đặt hàm khung Preci cần được thực hiện bởi các bác sĩ có kinh nghiệm. Việc lắp đặt chính xác sẽ giúp đảm bảo sự thoải mái và hiệu quả trong quá trình sử dụng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm khung Preci mang lại hiệu quả cao trong việc điều trị mất răng Kennedy I và II. Các bệnh nhân đã có sự cải thiện rõ rệt về chức năng ăn nhai và thẩm mỹ. Kết quả này cho thấy hàm khung Preci là một lựa chọn hợp lý cho những người mất răng.

4.1. Kết quả điều trị thực tế

Nhiều bệnh nhân đã báo cáo sự cải thiện đáng kể về khả năng ăn nhai và cảm giác thoải mái khi sử dụng hàm khung Preci. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy tỷ lệ thành công cao trong việc phục hồi chức năng răng miệng.

4.2. Đánh giá từ bệnh nhân

Phản hồi từ bệnh nhân cho thấy hàm khung Preci không chỉ cải thiện chức năng mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống. Sự hài lòng của bệnh nhân là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả điều trị.

V. Kết luận và tương lai của điều trị mất răng

Hàm khung Preci đã chứng minh được hiệu quả trong việc điều trị mất răng Kennedy I và II. Tương lai của phương pháp này hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển với các cải tiến trong thiết kế và kỹ thuật. Việc nghiên cứu và áp dụng các công nghệ mới sẽ giúp nâng cao chất lượng điều trị.

5.1. Xu hướng phát triển trong điều trị mất răng

Các nghiên cứu hiện tại đang tập trung vào việc cải thiện tính năng của hàm khung Preci. Sự phát triển của công nghệ sẽ mở ra nhiều cơ hội mới trong điều trị mất răng.

5.2. Tương lai của hàm khung Preci

Hàm khung Preci có tiềm năng lớn trong việc trở thành phương pháp điều trị chính cho mất răng. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ giúp xác định rõ hơn về hiệu quả và ứng dụng của phương pháp này trong thực tiễn.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị mất răng kennedy i và ii bằng hàm khung có sử dụng khớp nối preci

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Mất răng có nhiều nguyên nhân trong đó phần lớn là hậu quả của bệnh sâu răng và viêm quanh răng đặc biệt là ở người lớn tuổi. Mất răng cũng được coi là một khuyết tật ảnh hưởng đến ăn nhai, thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng tới mối quan hệ xã hội nghề nghiệp và chất lượng cuộc sống. Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc ở Việt Nam của Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội tiến hành nghiên cứu năm 2000 trên 3.384 đối tượng người lớn ở cả nông thôn và thành thị thì có trên 10% số người bị mất răng, kết quả về tình tình trạng số răng mất trung bình ở lứa tuổi trên 45 là 6,64 răng [1]. Mất răng loại I & II Kennedy l loại mất răng phổ biến và ảnh hưởng lớn nhất đến chức năng ăn nhai vì không có răng giới hạn phía xa nên trong các trường hợp này không thể làm cầu răng.

Hàm khung là loại phục hình tháo lắp từng phần có nhiều ưu việt hơn so với hàm giả tháo lắp nền nhựa. Hàm khung chịu được sức nhai nhiều hơn, truyền lực nhai sinh lý một phần lên răng-chân răng-vùng quanh răng và xương, trong khi đó hàm nhựa tháo lắp truyền toàn bộ lực nhai lên lợi - sống hàm mất răng. Trong phục hình hàm khung vùng cổ răng và lợi viền cổ răng ở hàm khung được giải phóng do đó bệnh nhân dễ chịu hơn, có cảm giác như nhai trên răng thật. Tuy nhiên trong các trường hợp mất răng loại Kennedy I và II, hàm khung có thể có những lực tác động ảnh hưởng xấu lên răng trụ cũng như sống hàm vùng mất răng.

Vì vậy việc phác họa khung sườn và thiết kế các phương tiện lưu giữ trong điều trị phục hình hàm khung là rất quan trọng. Thiết kế lưu giữ của hàm khung phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của khớp nối, móc và các phương tiện lưu giữ khác để hạn chế và loại bỏ các lực xoắn lên răng trụ cũng như sự phân bố lực nhai trên răng trụ và trên sống hàm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Hàm khung thông thường được thiết kế phần lưu giữ là móc, trong các trường hợp này nhược điểm của móc là: kém thẩm mỹ đặc biệt là ở nhóm răng trước, sau một thời gian sử dụng móc dễ bị biến dạng nên khả năng lưu giữ giảm, gây mắc thức ăn làm sâu răng trụ mang móc… Để khắc phục phần nào các hạn chế trên khi thiết kế khung, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hệ thống khớp nối (attachment) thay thế móc để kết hợp với khung. Hệ thống các khớp nối chính xác này bao gồm hai phần đó là phần âm được gắn vào hàm giả và phần dương được gắn vào răng trụ mang khớp nối.

Sự cải tiến này mang lại hiệu quả thẩm mỹ hơn so với răng mang móc thông thường, có thể hấp thu lực đối kháng để bảo vệ răng trụ. Một số các liên kết ngoài thân răng còn có tác dụng chuyển lực tác động từ trụ đỡ qua phần mềm và xương thông qua nền của hàm giả. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại Việt Nam về hàm khung với móc đúc như: Phạm Lê Hương [2], Nguyễn Thị Minh Tâm [3],Trần Bình Minh [4], Tống Minh Sơn [5]. cho thấy hàm khung cũng gây ra một số tác động đến tổ chức răng miệng còn lại như là: thẩm mỹ, lưu giữ, vấn đề tiêu xương vùng răng trụ và sống hàm.

Trong tất cả các nguyên cứu về hàm khung tại Việt Nam chưa thấy có nghiên cứu nào đề cập đến sự kết hợp của hàm khung và các khớp nối. Để nghiên cứu về sự ảnh hưởng của hàm khung với tổ chức răng miệng còn lại và hiệu quả của phục hình hàm khung có sử dụng khớp nối Preci chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá kết quả điều trị mất răng loại Kenndy I và II bằng hàm khung có sử dụng khớp nối Preci". MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, Xquang nhóm bệnh nhân mất răng Kennedy I và II có chỉ định làm hàm khung.

Đánh giá kết quả điều trị mất răng Kennedy I và II bằng hàm khung có sử dụng khớp nối Preci. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Phân loại mất răng : có nhiều cách phân loại mất răng 1. Phân loại mất răng theo Kourliansky: phân loại này dựa vào sự tiếp xúc răng được xác định bởi 3 điểm chạm khi 2 hàm ở tương quan khớp cắn trung tâm, có 4 loại: - Loại I : Mất răng còn đủ 3 điểm chạm.

- Loại II : Mất răng chỉ còn 2 điểm chạm. - Loại III: Mất răng còn 1 điểm chạm và còn nhiều răng trên cung hàm. - Loại IV: Mất răng toàn bộ. Phân loại mất răng theo Kennedy (hình 1.1): phân loại dựa theo tình trạng mất răng - Loại I : Mất răng 2 bên không còn răng giới hạn phía xa.

- Loại II : Mất răng 1 bên không có giới hạn phía xa. - Loại III: Mất răng hàm có giới hạn khoảng mất răng. - Loại IV: Mất nhóm răng cửa. Loại I Loại II Loại III Loại IV .1 Ph©n lo¹i mÊt r¨ng theo Kennedy.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại mất răng theo Kennedy có bổ xung bởi Applegate Cách phân loại này của Kennedy chưa thật hoàn hảo sau đó được tác giả Applegate chỉnh sửa và bổ xung dựa trên một số nguyên tắc như sau: Nguyên tắc 1: Phân loại mất chỉ được tiến hành sau khi nhổ các răng có chỉ định nhổ răng. Nguyên tắc 2: Nếu mất răng số 8 mà không cần làm răng giả thì không tính đến trong phân loại Nguyên tắc 3: Nếu còn răng số 8 mà được dùng như răng trụ thì răng só 8 này được tính đến trong phân loại Nguyên tắc 4: Nếu mất răng số 7 mà không cần làm răng giả (ví dụ: mất cả răng số 7 đối diện mà không làm răng giả) thì không tính đến trong phân loại. Nguyên tắc 5: Vùng mất răng phía sau luôn được chọn để qui định loại mất răng.

Nguyên tắc 6: Những khoảng mất răng khác được gọi là biến thể và được đánh số Nguyên tắc 7: Độ rộng của khoảng mất răng biến thể không được tính đến trong phân loại mà chỉ được tính số trong khoảng mất răng có thêm Nguyên tắc 8: mất răng loại IV không có biến thể Phân loại mất răng - Loại I : Mất răng 2 bên không có giới hạn phía sau. - Loại II : Mất răng 1 bên không có giới hạn phía sau. - Loại III: Mất răng sau 1 bên có giới hạn phía sau, nhưng những răng phía sau kề khoảng mất răng không thể gánh được lực nhai của hàm giả. - Loại IV: Mất nhóm răng trước đường giữa cắt ngang khoảng mất răng.

- Loại V: Mất răng 1 bên có giới hạn, nhưng những răng trước kề khoảng mất răng không đủ khả năng chịu lực nhai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Loại VI: Mất răng 1 bên có giới hạn, nhưng những răng còn lại đều gánh được lực nhai hàm giả. Mçi lo¹i cã 4 tiÓu lo¹i tïy theo nã kÌm theo víi mét, hai, ba hay bèn kho¶ng mÊt r¨ng trõ lo¹i IV kh«ng cã tiÓu lo¹i. Trong các cách phân loại, phân loại theo mất răng theo Kennedy bổ xung bởi Applegate chúng tôi sử dụng cách phân loại này trong nghiên cứu là hợp lý hơn cảvì cách phân loại mất răng này cho thấy rõ tình trạng mất răng của từng hàm riêng biệt, do đó giúp thầy thuốc có phương hướng điều trị một cách rõ ràng và hợp lý cho mỗi người bệnh.

-Tr-êng hîp mÊt r¨ng sau kh«ng giíi h¹n, hai bªn hay mét bªn (lo¹i I, lo¹i II) th× chóng ta chØ cã thÓ lµm hµm th¸o l¾p võa tùa lªn r¨ng - nha chu, võa tùa lªn niªm m¹c x-¬ng. Loại I, II với khoảng mất răng phía sau càng rộng thì việc hàm giả tựa lên niêm mạc-xƣơng là chủ yếu, vì vậy đánh giá đặc điểm lâm sàng và lập kế hoạch điều trị phù hợp cho từng trường hợp mất răng cụ thể là rất quan trọng. Trường hợp mất răng có giới hạn với khoảng mất răng hẹp hay vừa phải (loại III, IV, VI ) thì chúng ta nên làm loại hàm giả chỉ tựa lên răng – nha chu (cầu răng, hàm gắn chặt hay hàm khung). + Trường hợp mất răng có giới hạn với khoảng mất răng rộng (Loại III, loại IV, Loại V) thì chúng ta nên làm loại hàm giả vừa tựa lên răng vừa tựa lên niêm mạc.

Phục hình hàm khung * Ƣu điểm: so với hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa, hàm khung có độ bền cao hơn so với hàm nhựa, đem lại hiệu quả ăn nhai, phát âm tốt hơn do hạn chế sự chuyển động tự do của phục hình nhờ một khối đúc với các móc, tựa ở các răng thật, gọn hơn, lực nhai được truyền lên cả răng trụ và sống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khả năng nhai nghiền tốt do cấu trúc vững chắc và có sự nâng đỡ tốt trên răng, ổn định tốt do khả năng chống lại các lực di chuyển tự do của hàm giả tốt khi hàm ăn nhai. * Nhƣợc điểm: kỹ thuật lâm sàng và labo phức tạp. * Chỉ định: khoảng mất răng rộng không làm được cầu răng, mất răng không có răng giới hạn phía xa, sống hàm vùng mất răng tiêu nhiều, sự nâng đỡ vùng quanh răng giảm, phục hình sau phẫu thuật.

* Chống chỉ định: bệnh nhân có các răng thật xoay trục nhiều, các răng còn lại sâu nhiều, viêm quanh răng chưa được điều trị ổn định [21]. Lịch sử phục hình hàm khung Ngay từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, người Etruscan ở miền bắc Italy đã chế tác phần răng giả để thay thế các răng đã mất từ răng của con người hoặc động vật khác được gắn chặt cùng với những thanh vàng dát mỏng. Qua nghiên cứu của Moriyama [6] cho thấy răng giả bằng gỗ đã được phát minh tại Nhật vào khoảng đầu thế kỷ 16. Sau này người ta đã biết sử dụng răng của con người hoặc điêu khắc từ ngà voi, sừng động vật thay thế răng bị mất.

Những răng giả đã được làm với một nền hàm lớn, dựa trên nguyên tắc của sự bám dính tại chỗ. Những năm cuối thế kỷ 18, Delabarre sử dụng (móc) tương tự như móc răng ngày nay trên hàm giả tháo lắp từng phần để lưu giữ. Trong thế kỷ 19, Alcock [10] là người đầu tiên sử dụng một hàm giả đúc kim loại. Trước khi đổi mới của Alcock, gia cố hàm giả bằng kim loại được sử dụng từ việc cắt tấm kim loại mỏng và định hình thành các dạng hàm giả có thể sử dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ