Chương 1 TỔNG QUAN 1. Thực trạng và nhu cầu điều trị bệnh răng miệng ở người cao tuổi Con người không thể tránh khỏi sự lão hóa khi lớn tuổi, theo qui luật chung sự thoái hóa của toàn cơ thể các bộ phận ở vùng răng miệng cũng có những biến đổi theo xu hướng thoái triển từ từ tạo ra những rối loạn không phục hồi cả về hình thái và chức năng. Bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi cũng giống như những người trẻ tuy nhiên tỷ lệ mắc các bệnh này thường gặp với tần xuất cao hơn rất nhiều do sự phối hợp của nhiều yếu tố bệnh lý, thoái hóa, thói quen, điều kiện kinh tế…. Các vấn đề răng miệng thường gặp ở người cao tuổi: - Quá trình liền thương chậm, tình trạng vệ sinh răng miệng kém - Sâu chân răng, mòn răng - Tủy răng vôi hóa - Viêm quanh răng mạn tính - Mô dễ bị tổn thương - Cảm giác vị giác bất thường - Hội chứng bỏng rát niêm mạc miệng - Loãng xương sau tuổi mãn kinh - Tiêu xương quá mức - Nhiễm nấm… Điều trị răng miệng cho người cao tuổi có những điểm khác biệt cần được lưu ý.
Hầu hết người cao tuổi đều bị một hoặc nhiều các bệnh toàn thân khác, do đó cần khai khác đầy đủ tiền sử trước khi tiến hành bất cứ điều trị nào.Tâm lý của người cao tuổi cũng có nhiều thay đổi, khác với tuổi trưởng thành, trung niên, tình trạng vệ sinh răng miệng cũng kém hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bệnh sâu răng Sâu răng là một trong các bệnh phổ biến nhất, thường gặp với sự mất canxi của thành phần vô cơ, kèm hoặc tiếp theo là phân huỷ thành phần hữu cơ tạo thành hố ở các mặt trên thân, chân hoặc ở cả thân và chân răng gọi là lỗ sâu. Đối với NCT, sâu răng có những đặc điểm khác biệt về lâm sàng, tiến triển và sự ảnh hưởng của tủy răng so với người trẻ tuổi.
Sâu răng trên người cao tuổi thường tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, đáy lỗ sâu có mầu nâu sẫm, ít ê buốt, ảnh hưởng tới tuỷ chậm nhưng bệnh nhân đến khám thường là tuỷ viêm không hồi phục hoặc tuỷ hoại tử. Có thể gặp thể sâu răng đã ngừng hoạt động với đáy cứng. Theo vị trí, lỗ sâu ít gặp ở mặt nhai, mặt láng, nếu có thường là sâu tái phát xung quanh mối hàn cũ. Thể sâu ở cổ chân răng thường hay gặp ở những răng có tụt lợi.
Mặt xương chân răng thường không nhẵn, tạo điều kiện dễ dàng cho MBR hình thành. Lỗ sâu chân răng có thể gặp ở các mặt ngoài, trong, đặc biệt là mặt bên ngay sát cổ răng. Tổn thương phát triển có khuynh hướng lan theo chiều rộng về phía chân răng và các mặt kề cận, không tạo hốc rõ ràng, thường có hiện tượng quá cảm, gãy thân răng (được gọi là thể sâu răng lan). NCT thường có nhiều chân răng trong miệng (do sâu nhiều mặt, sâu vỡ hết thân răng) hay hình ảnh tổn thương sâu cộng với sự rạn nứt, gẫy vỡ ở men ngà tích lũy dần theo năm tháng [9],[10],[11].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hình ảnh sâu răng và phá hủy thân răng lan rộng [12] 1. Thực trạng bệnh sâu răng ở người cao tuổi Để đánh giá tình hình sâu răng, các nghiên cứu thường xem xét tỉ lệ người mắc và chỉ số SMT trung bình mỗi người trong cộng đồng. Sâu răng trước đây thường được cho là bệnh của trẻ em và của tuổi vị thành niên.
Kết quả là nhóm đích trong chương trình phòng sâu răng ở các quốc gia đã được triển khai tại các trường tiểu học. Tuy nhiên, ở nhiều nước chưa phát triển với mức độ mắc sâu răng rất thấp, những thông tin về bệnh ở trẻ em là chưa đủ để mô tả về tình trạng sâu răng của cộng đồng. Một số tác giả khác cho rằng tình trạng sâu răng theo tuổi thường do sâu răng tích luỹ và điều đó giải thích sự mất răng của người trưởng thành và NCT. Các nghiên cứu về sâu răng trong những thập niên gần đây cho thấy, đến giữa những năm 80 ở các nước Bắc Âu, Mỹ và các nước công nghiệp khác bệnh sâu răng trẻ em đã giảm rõ rệt [13].
Nhưng bệnh sâu răng ở NCT vẫn đang trên đà tiến triển ở khắp các châu lục với những mức độ khác nhau. Từ thập kỷ 70 cho đến nay, nhiều công trình đánh giá sâu răng ở NCT đã được tiến hành với mục đích xác định tình trạng và nhu cầu, làm cơ sở cho chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng NCT. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT của một số quốc gia trên thế giới T. số Tỷ Tác giả, Quốc gia Năm Tuổi N Sâu Mất Trám SMT còn răng lệ% Luan W.M và Cs, 1989 ≥60 1744 - 60,0 5,8 13,5 0,5 19,8 Beijing Chinese [4] Thomas S và 1994 ≥60 300 245 62.9 2,6 10,9 0,0 13,5 Cs,ManipalIndia [12] Christensen J& Cs, 1997 65-74 1006 784 - 2,3 19,2 6,0 27,5 JerusalemDenmark [14] Petersen P.2: Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT qua một số nghiên cứu tại Việt Nam Tác giả, Quốc gia Năm Tuổi N Tỷ lệ % Sâu Mất Trám SMT Nguyễn Võ Duyên Thơ 1992 ≥60 318 96,8 7,90 10,0 0,2 18,10 và Cs, TP HCM [17] Trần Văn Trường, Lâm 2000 ≥45 999 89,7 2,10 6,6 0,2 8,90 Ngọc Ấn [3] Phan Văn Việt [5] 2004 >60 850 55,6 1,76 10,7 0,12 12,6 Trần Thanh Sơn [18] 2007 >65 - 61 1,77 - - - Rihs L.B [19] 2009 >65 1192 0,5 28,5 1,2 30,2 Nguyễn Trà My [20] 2012 >60 - - - - - 5,34 Đỗ Mai Phương [21] 2015 >60 165 32,1 0,6 4,77 0,14 5,51 Trương Mạnh Dũng [22] 2017 ≥60 10800 33,1 0,85 8,04 0,11 8,98 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3: Tình hình sâu chân răng ở một số quốc gia trên thế giới Tác giả Quốc gia Năm Tuổi Tỷ lệ% Banting D.W và Cs [23] Canada 1986 ≥60 20,0-40,0 Cautley A.
Theo điều tra cơ bản toàn quốc lần thứ 2 tại Trung Quốc (2002), Wang H.Y và Cs cho thấy, ở lứa tuổi 65-74 chỉ số SMT theo răng là 12,4. trong đó, nữ cao hơn nam [26]. Công trình điều tra về sâu răng ở Ấn Độ năm 1994, Thomas S và Cs cho thấy, ở 3 nhóm tuổi 60-64; 65-74 và 75 chỉ số SMT là 11,8; 13,5 và 20,3 [12]. Một số công trình nghiên cứu ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương như Đan Mạch, Úc, Niu Di Lân, Canada, Na Uy như kết quả (bảng 1) cho thấy chỉ số SMT của NCT là rất cao ở mức từ 24,0 trở lên.
Tại Việt Nam, một nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Võ Duyên Thơ cũng chỉ ra tình trạng sâu răng ở nhóm người ≥ 60 tại các nhà dưỡng lão có tỉ lệ mắc tới 96,8% với số răng sâu chưa được trám là 7,9 và chỉ số SMT là 18,1 [17]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Năm 1986, Banting tổng kết 12 công trình nghiên cứu về sâu chân răng ở nhiều nước cho biết: sâu chân răng xuất hiện nhiều ở nhóm người già với tỷ lệ mắc khoảng 20 - 40%. Vị trí lỗ sâu thường gặp là ở mặt trong và mặt bên của răng hàm trên, mặt ngoài và mặt bên của răng hàm dưới [23]. Một số các công trình ở Anh (1996), Mỹ (1990), Niu Di Lân (1992), Canada (1993) nghiên cứu về vấn đề này đã cho thấy tỉ lệ mắc khá ( Bảng 3).
Tuy nhiên, Luan và Cs (1989) điều tra tại Trung Quốc lại cho một tỉ lệ thấp hơn [4]. Đặc biệt, Thomas S và Cs khám 300 NCT Ấn Độ (1994) thấy 11,8% người có mặt chân răng bị hở nhưng không có sâu [12], còn tại Việt Nam, Nguyễn Võ Duyên Thơ (1992) khám 318 đối tượng cho biết tỉ lệ và trung bình có sâu chân răng mỗi người là 5,0% và 0,14 răng/người [17]. Từ kết quả nghiên cứu về tình trạng răng SMT ở NCT tại nhiều quốc gia thuộc các châu lục khác nhau chúng ta có thể thấy tình trạng có răng sâu, mất răng do sâu và nhất là răng sâu chưa được trám có trị số rất cao. Ở nhiều cộng đồng, chỉ số SMT chiếm từ 3/4 trở lên trong tổng số răng của mỗi người.
Đây là con số vượt xa so với chỉ số SMT ở các tuổi 12, 15, 34 - 45 nếu so sánh với một số điều tra tại Việt Nam [27], [28],[29], [30]. Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng ở người cao tuổi Đã có khá nhiều các nghiên cứu tại Việt Nam như Nguyễn Võ Duyên Thơ, Đức Hoàng Thanh Trúc, Phan Vinh Nguyên, Mai Hoàng Khanh… đều cho thấy tỉ lệ sâu răng ở NCT chiếm tỉ lệ cao. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, sâu chân răng là yếu tố nguy cơ đối với nhiều bệnh toàn thân, đặc biệt là bệnh tim mạch [6]. Chính vì vậy, việc đánh giá nhu cầu điều trị bệnh sâu răng sẽ là cơ sở cho các chiến lược chăm sóc sức khỏe răng miệng cho cộng đồng NCT.
Nghiên cứu của Phan Vinh Nguyên (2006) trên NCT tại TP Cần Thơ ghi nhận nhu cầu trám 1 mặt ≥ 2 mặt, nhu cầu điều trị tủy và nhổ răng là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 (0,23-0,21), (0,12-0,09), (0,18-0,15) và (2,23-2,48) ở thành thị và nông thôn. Nhu cầu nhổ răng giảm dần theo nhóm tuổi 60-64 (1,72), 65-74 (1,33), ≥75 (0,08). Với 61% người bị sâu răng, 527 lỗ sâu chưa được trám (trung bình 1,77 răng/người) trong khi tỉ lệ răng được trám là rất thấp 0,26%. Có 75,3 % người có mòn mặt nhai (trung bình 11,8 răng/người).
Có 26 % người có tiêu mòn cổ răng (trung bình 1,2 răng/người). Có 39,7 % người có sang chấn răng (trung bình 0,4 răng/người). Và trung bình sẽ có 15,2 răng trên một người cần được điều trị hoặc hướng dẫn điều trị, hướng dẫn điều trị dự phòng với những răng mòn (trám răng sâu, tiêu mòn cổ răng, sang chấn …) [30]. Theo Mai Hoàng Khanh (2009), nhu cầu trám 1 mặt ≥ 2 mặt, nhu cầu điều trị tủy và nhổ răng là 1,75, 0,28, 0,06 và 1,31 [31].
Với một khối lượng công việc là rất lớn như vậy, cần thiết phải thông qua giáo dục nha khoa cũng như điều trị dự phòng để hướng dẫn chế độ ăn uống, chải răng thích hợp, loại bỏ các thói quen răng miệng có hại, điều trị dự phòng các tổn thương nhẹ như mài chỉnh cạnh sắc các răng mòn hay sang chấn … Mở rộng và phát triển các dịch vụ chăm sóc răng miệng tới gần dân hơn, đảm bảo thuận tiện, phù hợp mức sống người dân [32], [33].