Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Téng quan về cây ớt 1. Nguồn gốc và vị trí phân loại Nguồn gốc: Cây ớt có nguồn gốc từ Mexico, miền Trung và Nam của châu Mỹ (Mai Thị Phương Anh, 1999). Thế ky XVI, ớt được Christopher Columbus du nhập vào Tây Ban Nha năm 1493.
Từ Mexico, Tây Ban Nha các thương lái đã nhanh chóng chuyên ớt qua Ấn Độ, Philippines và sau đó là Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản với sự trợ giúp của các thủy thủ châu Âu. Gia vị mới này đã nhanh chóng được sử dụng trong chế biến thức ăn của các quốc gia nảy (Urig, 2015). Nhờ các nhà buôn và thủy thủ người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mà cây ớt đã dần được phân bố khắp thế giới. Khả năng phân bố rộng của cây ớt một phần cũng nhờ khả năng thích ứng khí hậu khá tốt của loài này (Tripodi & Kumar, 2019).
Vị trí phân loại: Cây ớt thuộc bộ Solanaes, họ ca Solanaceae, chi Capsicum L. Và có khoảng 27 loài với tên khoa học Capsicum spp. Theo Tong và Bosland (1999), chi Capsicum có khoảng 20 — 27 loài hoang dai được biết đến và 5 loài được thuần hóa bao gồm: Capsicum annuum L., Capsicum chinense Jacq., Capsicum pubescens Keep, Capsicum baccatum L. Trong số 5 loài Capsicum được trồng, Capsicum annuum L.
Là một trong những loài được trồng nhiều nhất với hơn 1,5 triệu ha diện tích đất trồng trên toàn thé giới (Akbar va cs, 2010), kế tiếp là Capsicum frutescens L. Ot Capsicum frutescens Keep có quả nhỏ và rat cay, nó được trồng phố biến rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các loài còn lại chỉ hạn chế ở Nam và Trung Mỹ. Tình hình sản xuất ớt tại Việt Nam: Ở Việt Nam, cây ớt được trồng từ lâu đời và được xem là một cây trồng có giá trị trong nhóm cây rau.
Từ năm 2010 trở lại đây, cây ớt đã phát triển rộng rãi ở hầu khắp các vùng trong cả nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2018), trong gần 10 năm 10 trở lại đây diện tích, năng suất, sản lượng ớt của cả nước có xu hướng tăng dần. Năm 2009, điện tích trồng ớt của cả nước là 9.280 ha, sản lượng đạt 90,39 nghìn tan, đến năm 2017 diện tích trồng ớt của cả nước đã tăng hơn gần 5 lần về diện tích và 6 lần về sản lượng so với năm 2009 với diện tích đạt 43.807 ha, sản lượng 579,92 nghìn tan. Bên cạnh việc gia tăng nhanh chóng về diện tích, năng suất cây ớt của cả nước cũng tăng lên đáng kể va gần tiệm cận với năng suất bình quân của thé giới.
Năm 2009, năng suất ớt của nước ta chỉ đạt trung bình 9,7 tan/ha, đến năm 2017 năng suất trung bình đã đạt 13,2 tan/ha. Năm 2007, Trung Quốc, Singapores, An Độ là những thị trường nhập khâu ớt chủ yếu của nước ta. Giá nhập khẩu ớt khô của nước ta tăng rất mạnh, nhập khâu sang thị trường Trung Quốc từ 1800 — 3280 USD/tan, nhập sang thị trường Singapores và An Độ khoảng 350 USD/tan (Nguyễn Phúc, 2008). Theo FAOSTAT (2021), sản lượng ớt khô của Việt Nam trong năm 2021 là 99.000 tấn, điện tích sản xuất là 67.654 ha, sản lượng ớt khô khoảng 1,5 tắn/ha.
Bệnh thán thư trên ớt Theo Vũ Triệu Man (2007) bệnh than thư trên ớt do hai loại nam Colletotrichum nigrum và Colletotrichum capsici gây ra. Theo Lê Đình Đôn va cs (2007), có ít nhất ba loài nam được tim thấy trên trái ớt Colletotrichum acutatum. Triệu chứng bệnh Ray (2004) đã miêu tả bệnh than thư trên ớt, bệnh xuất hiện ở tat cả các giai đoạn sinh trưởng bao gồm cả giai đoạn sau thu hoạch. Đặc biệt xuất hiện nhiều trên quả chín, các trái chạm dat hoặc các trái bị tổn thương.
Vét bệnh mới xuất hiện nhỏ, lõm và có thể phát triển lên đến 3cm. Vét thương là nơi tập trung nhiều 6 bao tử nam, trên vết bệnh cũng có các quả thé mau đen, xếp thành hình tròn đồng tâm. Theo Vũ Triệu Man (2007), bệnh than thư có thé gây hại t rên thân, lá, trái và hạt. Nhưng gây hại chủ yếu trên trái vào giai đoạn chín.
Vết bệnh ban đầu là một đốm nhỏ hơi lõm, ướt trên bề mặt vỏ trái, sau 2-3 ngày thì kích thước bệnh có thé lên đến lem đường kính. Vết bệnh thường có hình thoi, lõm, phân ranh giới giữa mô bệnh là một đường màu đen chạy dọc theo vết bệnh. Trên bề mặt vét bệnh có những chấm nhỏ là đĩa 11 cành của nam gây bệnh. Các vết bệnh có thé liên kết với nhau làm trái bị thối.
(2008) miêu tả triệu chứng điển hình trên trái là các tốn thương hình tròn, lõm với vòng tròn đồng tâm trên bề mặt trái ướt và xuất hiện tản nắm hồng với nhiều bào tử vô tính. Dưới áp lực bệnh nặng, vết bệnh liên kết lại gây thối trái. Tống quan về nam Colletotrichum spp. Gây bệnh than thư trên ót 1.
Vị trí phân loại Nam Colletotrichum spp. Là tác nhân gây bệnh than thư trên cây ớt. Theo CABI, 2021 Giới (Kingdom): Fungi; Ngành (Phylum): Ascomycota Phan nganh (Subphylum): Hexapoda; Lớp (Class): Sordariomycetes; Bộ (Oder): Glomerellales; Họ (Family): Glomerellaceae; Chi (Genus): Colletotrichum Có năm loài Colletotrichum đã được phát hiện có gây bệnh than thu trên cây ớt, đó là Colletotrichum acutatum, Colletotrichum capsici, Colletotrichum gloeosporioides, Colletotrichum coccodes va Colletotrichum graminicola (Lakshmi Sahitya U va cs, 2014). Phan bố và ky chủ: Da phần các loài Colletotrichum spp.
6 dang bào tử va tồn tại trong đất hoặc trên các mảnh vụn đã bị nhiễm bệnh. Nắm Colletotrichum spp. Là loại nam kí sinh đa kí chủ (Agrios, 2005), phân bố rộng trên khắp thế giới. Nắm Colletotrichum spp.
Tập trung chủ yếu tại Nam Á đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ, vùng bờ biển Tây của Nam Mỹ, một sỐ quốc gia Tây Phi đặc biệt là Ghana. Một số loài Colletotrichum hoặc các biotypes có thé cùng gây hại trên một ký chủ. Gây ra bệnh than thư trên xoài có thé là Colletotrichum acutatum và Colletotrichum gloeosporioides. Dâu tây có thé bị nhiễm Colletotrichum fragariae, Colletotrichum acutatum và Colletotrichum g/oeosporioides gây hại trên cả thân lá và qua.
Hạnh nhân 12 và các loại trái cây rụng lá khác có thé nhiễm Colletotrichum acutatum hoặc Colletotrichum gloeosporioides. Cam quýt, cà phê, bau bí, ca, ớt đều có thé bị gây hại (Freeman, 1998). Gây hại trên một số cây trồng Nguôn: Cannon và cs, 2012 1. Đặc điểm hình thái Nam Colletotrichum có sợi nam nội sinh, mảnh, phân nhánh, không mau, có vách ngăn, sợi nam có nội bao và gian bảo.
Nhiều hạt dầu được hình thành trong mỗi sợi nắm, khi sợi nắm gia trở nên sậm mau và bện xoắn lại thành dang chất nền nhỏ dưới lớp ngoài cùng. Nam Collefotrichum sinh sản vô tính bằng bao tử, bao tử đính phát triển trên cuống bào tử dạng quả thể là cụm cuống bào tử. Cụm cuống bào tử có dạng đĩa phẳng, mỗi cụm cuống bào tử gồm lớp chất nền, bề mặt sản sinh cuống bào tử trong suốt. Cuống bào tử không có vách ngăn kéo dai đơn bao, dạng liềm, cong, bao tử trong suốt.
Cùng với bao tử và cuống bao tử 1a các lông cứng trên mỗi cụm cuống bảo tử. Lông cứng dai, thuôn nhọn, không phân nhánh và đa bao, cau trúc như to cứng. Một vài loại nắm của Colletotrichum có hoặc không có lông cứng có thé được kiểm soát bởi sự thay đôi của độ âm. Khi gặp điều kiện thuận lợi, mỗi bao tử nảy mam từ một đến nhiều ống mam dé 14 hình thành sợi nắm, gây tôn thương trên bề mặt vật chủ.
Soi nam gia đôi khi hình thành vách dày, màu nâu sm, hình cầu gọi là hậu bào tử (Chlamydospores), có thé tận cùng hoặc chen giữa sợi nam dé tồn tai trong thời gian dai và khi tach chúng ra cũng nảy mam để hình thành sợi nam mới. Cũng như những loại nấm gây bệnh thực vật khác, Colletotrichum tồn tại chủ yếu giai đoạn vô tính, còn giai đoạn hữu tính chủ yếu ton tai trên mô đã chết (Sutton, 1995).2 Hình thái của các chủng nam Colletotrichum khi được cấy trên đĩa peri và quan sát dưới kinh hiển vi (Nguồn: Liu và cs, 2016) 1. Qua trình phát sinh bệnh Colletotrichum spp. Sử dụng các cách khác nhau dé gây bệnh cho cây ký chủ.
Sự xâm nhiễm ban đầu bởi các nắm Colletotrichum có liên quan đến một loạt các quá trình bao gồm sự tiếp xúc bào tử lên bề mặt cây trồng, sự nảy mam của bào tử, sự hình thành giác bám, sự xâm nhập vào biêu bì của cây, sự phát triên, định vị vào mô cây, sự sản 15 sinh ra đĩa cành và bào tử phân sinh (Than và cs, 2006). Trên cây, nắm duy trì trạng thái tiềm sinh không gây bệnh cho tới khi các thay đổi sinh lý của mô (do tôn thương, già hóa) xuất hiện. Các thay đồi này kích thích nam chuyên sang trạng thái có tính độc cao và gây bệnh. Trạng thái tiềm sinh của nắm có thê diễn ra dưới 2 dạng: nắm sống nội sinh trong mô nhưng không gây bệnh và trên bề mặt cây, quả, đĩa cành của nam có thé duy trì trạng thái ngủ nghĩ lâu dài (Hà Viết Cường, 2008).
Một số nghiên cứu cho thấy quá trình trước xâm nhập cơ bản là giống nhau cho tat cả các loài Colletotrichum. Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn sau quá trình xâm nhập. Có thể diễn ra hai cách thức xâm nhiễm: bán ký sinh — xuyên qua tế bao (intracellular hemi-biotrophy); hoại sinh trong vách tế bào và dưới biểu bì (swbcuticular intramural necrotrophy) (Phillip va cs, 2004).3 Triệu chứng bệnh than thu trên quả ớt do nắm Colletotrichum spp. Vong đời 0 Đĩa bám Xâm nhập vào vật chủ Cuống bào tử Lông cứng Chuyển sang giai đoạn bed itu” Thé qua dang chai Chúng tồn tại ở dạng sợi nấm hay hạch nấm Bệnh thin the xuất hiện trong xác thực vật và đất trên nhiều loại cây Hình 1.4 Vong đời của Colletotrichum spp.
(Nguồn: De, 2017) Sau khi bào tử nam tiếp xúc với vật chu, chúng sẽ nảy nam, hình thành đĩa bám và bắt đầu xâm nhiễm vào các tế bào của vật chủ, giai đoạn tiếp theo là hoại tử do các tế bào vật chết đi vì mất chất đinh dưỡng. Lúc này trên vật chủ như trái cây, thân hoặc lá xuất hiện các vết bệnh, thối nhữn, màu đen, hơi lõm và có thé có chất nhay. Giai đoạn tiếp theo là nam Colletotrichum spp. Sẽ hình thành các cành sinh bào tử và phát tán bào tử, hoặc chúng sẽ tồn tại dưới dạng sợi nắm hay hạch nắm trong đất, tàn dư thực vật hay còn gọi là giai đoạn tiềm ân, bào tử hình tals và tồn tại trong các thể quả dạng chai, khi điều kiện thuận lợi chúng sẽ phát triển thành các túi bào tử và phát tan bào tử tiếp tục vòng đời.
Tổng quan về dịch chiết thực vật 1.