Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Ký chủ và pathotypes của nắm Magnaporthe grisea Nam Magnaporthe grisea (tên khác Pyricularia oryzae hoặc Magnaporthe oryzae) hay còn gọi là nam dao ôn. Nam có thé ký sinh trên nhiều ký chủ như Rottboellia exaltata, Leersia hexandra, Echinochloa colona (Mackill và Bonman, 1986), Poaceae spp., Oryza sativa, Triticum aestivum, Hordeum vulgare, Zea mays, Avena sativa, Secale cereale, Eleusine corocana, Lolium perenne (Skamnioti va Gurr, 2009), Sefaria spp., Leersia hexandra, Panicum repens (Couch va cộng su, 2005), Eleusine coracana (L.) Gaertn Ugnacimuthu va Ceasar, 2012), Brachiaria brizantha (Marchi, 2005). Một số thuộc tinh đặc biệt của nắm M grisea được xác định như hình mẫu về tác nhân gây bệnh trên cây trồng (Talbot và cộng sự, 2001).
Hệ thống bệnh đạo ôn là một mô hình mẫu không chỉ cho thấy sự tương tác giữa cây trồng và mầm bệnh mà còn cho thấy sự thay đổi ký chủ trên các loài cỏ đại ngày nay (Valent 1990; Talbot 2003). Bệnh đạo ôn và bệnh đốm xám trên cỏ do Ä⁄ grisea gây ra, đây là một tổ hợp loài của nắm ascomycetous đơn bội (Couch va Kohn, 2002). grisea là phức hợp các loài Oryzae bao gồm một số loài cỏ lúa, chăng hạn như cỏ thủy lôi (Panicum repens) và cỏ mực (Leersia hexandra) và các loại cỏ như Sefaria italica (Ou, 1987). grisea sinh sản vô tính bằng các bào tử phân bao (conidia) từ vết bệnh của cây trên mặt đất.
Một vét bệnh có thé tạo ra 2000 - 6000 bao tử/ngày trong tối đa 14 ngày với nhiều chu kỳ lây nhiễm và sinh sản trong một mùa sinh trưởng. Một số bào tử phân tán ra ngoài phạm vi 1 m (Ou, 1987). Trong tự nhiên, nam M. grisea có sự khác biệt về kha năng sinh sản khi ký sinh trên các ký chủ khác nhau (Notteghem và cộng sự, 1992).
Dé gây bệnh trên cây trồng, nam đạo ôn sử dụng một tế bào nhiễm trùng đặc biệt là giác bám (appressorium), tế bào này làm vỡ lớp biểu bì của cây lúa và cho phép nam xâm nhập vào các tế bào biểu bì (Wilson và cộng sự, 2009). grisea xâm nhập vào mô lúa bằng cách sử dụng sợi nắm xâm lấn đặc biệt (TH), chúng liên tiếp chiếm các tế bào của cây lúa sống (Kankanala và cộng sự, 2007) và xâm nhập mở rộng vao mô tế bào trước khi xuất hiện các triệu chứng bệnh. Tế bào vật chủ ban đầu bị xâm nhập bởi các sợi nắm sơ cấp hình ống hẹp, sau đó phát triển thành hình củ, phình to (Hình 1. Về mặt hình thái, tế bào hình củ bị co thắt tại các điểm nối vách ngăn, giống như những sợi giả do vi nam gây bệnh ở người là Candida albicans (Crampin và cộng sự, 2005) tạo ra.
Sự phân biệt với một sợi nam xâm lấn chuyên biệt sẽ tái diễn đối với mỗi sợi nam mới xâm nhập vào tế bào vật chủ còn sống (Hình 1.1) và quá trình biệt hóa này rất quan trọng đối với sự phát triển của bệnh (Giraldo và cộng sự, 2013). Trong quá trình xâm nhập tế bào ký chủ đến chuyển sang quá trình sinh dưỡng, M. grisea tiết ra nhiều protein liên quan đến chất sinh học có trọng lượng phân tử thấp (Bas), bao gồm cả các protein hiệu ứng và các protein này sở hữu các peptit tín hiệu tạo điều kiện giúp sợi nằm xâm nhập vào lưới nội chất (ER) (Valent và cộng sự, 2010). Filamentous primary IH oe là “~~ ee lÀ aam fH Bulbous end — Hình 1.
Co chế xâm nhiễm của nam M. grisea vào tế bao biéu bì cây ky chủ (Giraldo và cộng sự, 2013) Theo định nghĩa cua từ điển Oxford, pathotypes là một dạng biến thể của sinh vật, vi sinh vật, tác nhân gây bệnh ở một ký chủ riêng biệt hoặc phạm vi ky chủ. Pathotypes chỉ sự phân biệt dang biến thé bệnh lý của vi sinh vật. Biểu hiện bệnh lý về hình thái do nắm M.
grisea gây ra tương đối giống nhau nhưng khác nhau về mặt đi truyền trên các ký chủ riêng biệt. grisea gây bệnh trên lúa, lúa mì, cỏ, kê lần lượt gọi là Oryzae pathotype, Triticum pathotype, Lolium pathotype, Setaria pathotype và nhiều ký chủ khác (Malaker và cộng sự, 2016). Tổng quan về kỹ thuật PCR Phan ứng chuỗi polymerase (PCR - polymerase chain reaction) là kỹ thuật phan tử tao dòng DNA đơn giản. Thông qua PCR hàng triệu đoạn DNA đồng nhất được thu thập từ một hỗn hợp các phân tử gồm RNA, protein, polysaccharide, DNA không có chức năng và DNA có chức năng di truyền (Hình 1.
A T ox ~ Strends separate 1. Denaturing TrrTril fii | S8°C- Primers bindtemplste `2, Annealing Taq polymerase Mix Buffer PCR Tube blalaladobebe | | | PT |- Synthesise new strand 3. Extension — Cycle —— Thermal Cycler peeLL1 H. Nguyên tac phan ứng PCR (Nguồn : https://thebiologynotes.com/polymerase-chain-reaction-pcr/) PCR thí nghiệm nhân bản một đoạn DNA trong ống nghiệm dựa vào các chu kỳ nhiệt.
Thí nghiệm được thực hiện trong một ống nghiệm nhỏ chứa dung dịch phan ứng có thê tích 10 pl đến 50 pl với các thành phần: enzyme polymerase chịu nhiệt (Taq polymerase) có hoạt tính tối đa 72°C; 4 loại desoxyribonucleotide (dNTP) là Adenine, Thymine, Guanine và Cytosine (dATP, dTTP, dGTP, dCTP); DNA chứa DNA mục tiêu được nhân bản trong phan ứng: đoạn môi (primer) xuôi và ngược là các đoạn oligonucleotide có chiều dai 20 - 30 nucleotide có trình tự bổ sung đặc hiệu với trình tự của 2 đầu đoạn DNA sẽ được nhân bản. lon Mg”” trong muối MgCh ở nồng độ thích hợp. Dung dịch đệm Tris-HCI làm dung môi trong phản ứng. Ông nghiệm phản ứng được cho vào buồng ủ chu kỳ nhiệt của máy luân nhiệt (thermal cycler), chương trình nhiệt độ của máy làm nhiệt độ trong buồng ủ nhiệt của máy theo đồi theo chu kỳ làm xảy ra phan ứng nhân bản DNA.
Phan ứng PCR gồm nhiều chu kỳ lap lại nối tiếp nhau. Mỗi chu kỳ gồm 3 bước như sau: Bước 1: (Biến tính tách đôi sợi DNA, denaturation) giai đoạn này được thực hiện ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ nóng chảy cua phân tử (94 - 95°C) trong vòng 30 giây đến 1 phút, làm cho phân tử DNA mạch kép tách thành 2 mạch đơn. Chính hai mạch đơn này đóng vai trò là mạch khuôn cho sự tổng hợp hai mạch bổ sung mới. Bước 2: (bắt cặp, annealing) trong bước này ở nhiệt độ được hạ thấp hơn nhiệt độ nóng chảy (Tm) của các primer, cho phép các primer bắt cặp với mạch khuôn.
Trong thực nghiệm nhiệt độ nay dao động trong khoảng 55 - 65°C. Tùy thuộc vào Tm của các primer mà thời gian bat cặp kéo dài từ 30 - 60 giây. Bước 3: (kéo dài, elongation - extension) nhiệt độ được tăng lên 72°C giúp cho DNA polymerase hoạt động tốt nhất. Dưới tác động của DNA polymerase, các nucleotide lần lượt gắn vào primer theo nguyên tắc bổ sung với mạch khuôn.
Thời gian của giai đoạn này tùy thuộc vào độ dài của trình tự DNA khuếch đại, thường kéo dài từ 30 giây đến vài phút. Sự khuếch đại này có thể được tính như sau: Tổng lượng DNA khuếch đại = m x 2" m: Là số bản sao của chuỗi mã hóa. n: Là số chu kỳ. Như vậy, qua một chu kỳ nhiệt, một DNA mục tiêu đã được nhân bản thành hai bản sao và nếu chu kỳ này được lặp đi lặp lại liên tục 30 đến 40 lần thì từ một DNA mục tiêu đã nhân bản được thành 230 đến 240 bản sao, tức là đến hàng tỷ bản sao.
Tổng quan kỹ thuật LAMP LAMP (Loop Mediated Isothermal Amplification) là một phương pháp khuếch đại acid nucleic với tính đặc hiệu và độ nhạy cao trong điều kiện dang nhiệt (trong khoảng 60 - 65°C), dùng dé phân biệt sự khác nhau của nucleotid mach don. Trong kỹ thuật LAMP, trình tự mục tiêu được khuếch đại trong điều kiện nhiệt độ không đổi và không yêu cầu chu trình nhiệt phức tạp. Kỹ thuật này thường sử dụng bốn mỗi (primer) khác nhau có tính đặc hiệu cao dé xác định sáu vùng riêng biệt trên trình tự gen mục tiêu (target gene). Kỹ thuật này đạt hiệu quả khuếch đại cao, lượng DNA được khuếch đại lên 10° - 10!° lần trong 15 - 60 phút (Hình 1.3) Samples | (Reference time) [ DNA/RNA extraction | DNA/RNA 2 \ extraction | | from samples › II : | Amplification L- 1.Prepare master mix.Add DNA/RNA samples 3.Detection visual detection (by fluorescence) real-time turbidity detection [ DolepHfon, — L-.----—=nnn or oracton Hinh 1.
Các bước thực hiện phản ứng LAMP (Nguồn :http://loopamp.jp/e/tech/index.htm]) So với các phương pháp như PCR, Realtime PCR, ELISA thi LAMP có độ chính xác cao, đơn giản, giá thành thấp và đặc biệt là thời gian thực hiện ngắn. Ngoài ra, có khả năng do thành phần phản ứng LAMP được sử dụng với Bst polymerase nên LAMP có độ nhạy cảm (khả năng kháng) thấp hơn so với PCR. Đặc điểm này của LAMP hữu ích trong việc tiết kiệm thời gian xử lý mẫu và chỉ phí chuẩn đoán. Do vậy, phản ứng LAMP thường được sử dụng để tạo các bộ kit chuẩn đoán nhanh phô biến rộng rãi trên thế giới.
Mỗi của phản ứng LAMP được thiết kế dựa trên khuôn là đoạn trình tự nucleic của gen mục tiêu. Bộ mỗi phản ứng LAMP gồm bốn loại mồi (Bảng 1.1) để nhận biết sáu vùng trình tự đặc hiệu trên gen mục tiêu. Bao gồm: đoạn F3c, F2c va Fle ở đầu 3' và đoạn BI, B2 và B3 ở đầu 5'. Cac môi dùng trong phản ứng LAMP (Nguồn: Theo Vũ Tan Nam, 2015) Moi Cau trúc Chita đoạn F2 ở dau 3' có trình tự bô FIP sung với đoạn F2c trên gen mục tiêu va (Forward Inner Primer) một đoạn ADN có trình tự giống hệt đoạn Flc ở dau 5'.
Chứa đoạn F3 có trình tự bổ sung với F3 Primer (Forward Outer Primer ) đoạn F3c trên gen mục tiêu. Chita đoạn B2 ở đầu 3' có trình tự bổ ; sung với đoạn B2c trên gen mục tiêu va BIP (Backward Inner Primer) sẽ một đoạn ADN có trình tự giông hệt đoạn Blc ở đầu 5' Chứa đoạn B3 có trình tự bổ sung với B3 Primer (Backward Outer) doan B3c trén gen muc tiéu Trong phan ứng LAMP, quá trình tong hợp chuỗi DNA xoắn kép được diễn ra ở điều kiện đẳng nhiệt (khoảng 60 - 65°C) trong khoảng 15 - 60 phút với sự có mặt của enzyme Bst DNA polymerase, dNTP, các cặp môi đặc hiệu va DNA nam M. grisea, Cơ chế phản ứng LAMP gồm ba bước: tao vật liệu khởi dau, tái bản và kéo dài chuỗi, cuối cùng là lặp lại chu kỳ. Chỉ thị phân tử 1.
Khái niệm về chỉ thị phân tử Chỉ thi phân tử là chuỗi DNA bat kỳ có tính đa hình và được phát hiện bằng kỹ thuật phân tử (Saraswathy và cộng sự, 2011). Các chỉ thị phân tử cho phép phát hiện các biến thể đa hình tồn tại giữ cá thể trong quần thể đối với các vùng DNA.