Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đào tạo liên tục cho đối tượng Y sĩ (CME - Continuting Medical Education) 1. Đào tạo liên tục 1. Khái niệm Hiện nay, Bộ Y tế ban hành Thông tư 22/2013/TT-BYT năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế, trong đó nêu rõ: Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education - CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development - CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho CBYT mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân.
Đào tạo liên tục đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực y tế để cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng kịp thời việc chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân do sự thay đổi về mô hình bệnh tật, sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và sự thay đổi của hệ thống y tế và của bối cảnh kinh tế - xã hội. Sơ lược về công tác đào tạo liên tục 1. Trên thế giới Trên thế giới, từ những năm 1960, Hội Y học Hoa Kỳ đã xây dựng hệ thống điểm CME cho đối tượng bác sĩ, 150 điểm CME mới được duy trì giấy phép hành nghề. Năm 1984, WHO khuyến nghị các nước Đào tạo liên tục, năm 2003 các nước trên thế giới chuyển hướng đào tạo CME từ lượng về chất CPD (Continuing Professional Development – phát triển nghề nghiệp liên tục).
Đến năm 2009, Thỏa 5 thuận thừa nhận Người hành nghề Y lẫn nhau trong 10 nước ASEAN đã được ký kết. Năm 1998 Liên đoàn Giáo dục Y học Thế giới (World Federation Medical Education - WFME) với sự phối hợp của WHO đã khởi xướng xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học. Mục tiêu là cung cấp một cơ chế cho việc nâng cao chất lượng trong giáo dục y học, trong phạm vi toàn cầu, để áp dụng ở các nước trên thế giới. Tiêu chuẩn quốc tế có chức năng như là khuân mẫu cho việc đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục y khoa và còn có vai trò đảm bảo nền móng vững chắc cho giáo dục y khoa.
Bộ tiêu chuẩn quốc tế của WHO & WFME gồm có 3 tập bao gồm cả 3 giai đoạn của quá trình đào tạo y học là Giáo dục y học cơ bản (Standard in basic medical education); Giáo dục y học sau đại học (Standard in posgraduate medical training) và Đào tạo liên tục/ nâng cao nghề nghiệp liên tục (Standard for continuing medical/ professional development - CME/ CPD) [34]. Bộ tiêu chuẩn quốc tế này đã được đưa ra tại Hội nghị toàn cầu về Giáo dục y học tại Copenhagen (2003) đã được chính thức thông qua và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng để áp dụng. Năm 2006, nhóm tác giả Kossman và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về đào tạo liên tục đối với đối tượng cán bộ Y sĩ. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã phát triển một chương trình đào tạo đa cấp cho đội ngũ y tá và áp dụng phương pháp “mô hình đào tạo huấn luyện viên” để nâng cao kiến thức kỹ năng cho nhân viên ý tá tại các bệnh viện.
Mặc dù có kế hoạch triển khai tập huấn đào tạo cụ thể, song hiệu quả công tác đào tạo liên tục không cao do hệ thống cơ sở vật chất yếu kém. Do vậy, các chiến lược tăng nguồn kinh phí cho đào tạo liên tục và tăng cường ứng dụng công nghệ vào công tác đào tạo liên tục cần được xây dựng triển khai. Năm 2016, nhóm tác giả Curtis, Fintan K. Sheerin, Jan de Vries tiến hành nghiên cứu về “Developing leadership in nursing: The impact of education and training” [15].
Nội dung nghiên cứu đánh giá công tác đào tạo và đào tạo liên tục cho đội ngũ điều dưỡng viên, đặc biệt là điều dưỡng trưởng trong các bệnh viện. 6 Nghiên cứu chỉ ra rằng khi đội ngũ điều dưỡng viên đã được giảng dạy một cách có hiệu quả và đào tạo liên tục theo các phương phương tập huấn sẽ có tác động tích cực đến kỹ năng lãnh đạo và thực hành lãnh đạo của điều dưỡng viên. Từ đây, nghiên cứu đưa ra các đề xuất cho các tổ chức chăm sóc sức khoẻ tiếp tục phát triển và hỗ trợ đào tạo đội ngũ điều dưỡng viên, đồng thời tìm cách ứng dụng công nghệ vào đào tạo để nâng cao hiệu quả đào tạo liên tục. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, trước năm 1990 đã có các chương trình bồi dưỡng cán bộ y tế.
Từ năm 1990, ban đào tạo liên tục được thành lập ở trung ương và các tỉnh, cơ sở đào tạo liên tục được đặt ở các trường Y khoa. Năm 2008, Bộ Y tế ban hành thông tư 07/2008/TT-BYT, trên cơ sở đó các trung tâm Đào tạo liên tục được đặt ở các trường, viện, bệnh viện, hội nghề nghiệp. Đến năm 2009, Luật khám bệnh chữa bệnh được Quốc Hội khóa 12 thông qua (số 40/2009/QH12), trong đó điều 29 đề cập người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong thời gian 02 năm liên tiếp thì bị thu hồi chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hành nghề. Để triển khai Luật khám chữa bệnh, năm 2013, thông tư 22/2013/TT-BYT Hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế [6] được Bộ Y tế ban hành thay thế TT07/2008/TT-BYT [4].
Theo quy định trong Thông tư 22/2013/TT-BYT về Hướng dẫn Đào tạo liên tục, tất cả các cán bộ y tế đều phải tham gia học tập liên tục tối thiểu 48 tiết trong 2 năm đối với người hành nghề và 120 tiết trong 5 năm đối với đối tượng khác. Đào tạo liên tục là yêu cầu bắt buộc đối với người hành nghề bao gồm cả bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh [6]. Các phương thức thực hiện đào tạo liên tục Theo điều 6 Thông tư 22/2013/TT-BYT [6] có quy định cụ thể các hình thức đào tạo liên tục và nguyên tắc qui đổi như sau: 7 1. Tập huấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn trong và ngoài nước theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến (E-learning) được cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thời gian tham gia đào tạo liên tục được tính theo thực tế chương trình đào tạo.
Hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực chuyên môn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tổ chức căn cứ vào chương trình của hội thảo, hội nghị, tọa đàm: thời gian tham gia đào tạo được tính cho người chủ trì hoặc có bài trình bày tối đa 8 tiết học và người tham dự tối đa 4 tiết học cho mỗi hội thảo/ hội nghị/ tọa đàm. Thực hiện nghiên cứu khoa học; hướng dẫn luận án, luận văn; viết bài báo khoa học đã được công bố theo qui định: được tính tối đa 12 tiết học cho người hướng dẫn luận án, chủ trì/ thư ký đề tài cấp Nhà nước hoặc cấp Bộ; 8 tiết học cho hướng dẫn luận văn hoặc chủ trì/ thư ký đề tài cấp cơ sở (tính tại thời điểm luận văn được bảo vệ thành công hoặc đề tài được nghiệm thu đạt). Biên soạn giáo trình chuyên môn được tính tối đa không quá 8 tiết đối với 1 tài liệu do người đứng đầu đơn vị xem xét (tính vào thời điểm xuất bản); cán bộ y tế không phải là giảng viên của cơ sở giáo dục tham gia giảng dạy liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ được tính theo thời gian thực tế. Hình thức đào tạo liên tục qui định tại Khoản 1 Điều này phải có chương trình và tài liệu đào tạo được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt.
Y sĩ tại Việt Nam 1. Định nghĩa Y sĩ Y sĩ là những cán bộ nhân viên đang làm việc trong hệ thống y tế, hầu hết đều làm việc tại tuyến y tế cơ sở (các TTYT Quận/ Huyện, các trạm y tế xã, khu vực nông thôn, …) phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân [12]. 8 Việc triển khai đào tạo CME cho đối tượng Y sĩ hiện tại đang đặt ra rất nhiều thách thức cho ngành y tế. Chức năng, nhiệm vụ của Y sĩ Chức năng và nhiệm vụ của Y sĩ trong hệ thống y tế Việt Nam được nêu cụ thể như sau: - Khám và chữa bệnh thông thường trong phạm vi quy định của phân tuyến kỹ thuật.
- Trợ giúp Bác sỹ trong khám, chữa bệnh và thực hiện các kỹ thuật chăm sóc người bệnh tại Trạm Y tế. - Phát hiện và xử trí ban đầu một số bệnh cấp cứu và các vết thương thông thường. - Tham gia sơ cứu các tai nạn và thảm họa xảy ra tại địa phương. - Biết được những kiến thức cơ bản về chẩn đoán, điều trị các bệnh thường gặp theo y học cổ truyền (YHCT), phương pháp điều trị những bệnh thông thường bằng YHCT tại tuyến cơ sở, bằng thuốc nam, châm cứu, xoa bóp và tập luyện dưỡng sinh.
- Hướng dẫn nhân dân sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. - Tham gia các hoạt động chuyên môn, tư vấn và cung cấp các dịch vụ về sức khoẻ sinh sản và Dân số - Kế hoạch hoá gia đình. - Hướng dẫn và tư vấn cho nhân dân thực hiện vệ sinh phòng bệnh. - Chăm sóc và hướng dẫn phục hồi chức năng cho người bị tàn tật, thương tật tại cộng đồng.
9 - Phát hiện sớm các nguy cơ gây bệnh, gây dịch tại cộng đồng; đề xuất và tham gia các biện pháp giải quyết; báo cáo kịp thời khi có dịch. - Quản lý, theo dõi, chăm sóc các bệnh nhân mắc bệnh xã hội, bệnh mạn tính tại cơ sở y tế, tại nhà. - Tham gia lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, gia đình và cá nhân tại địa phương. - Tham gia công tác truyền thông, giáo dục sức khoẻ, tư vấn cho các cá nhân, gia đình và cộng đồng về các vấn đề sức khoẻ.
- Thực hiện các chương trình y tế tại địa phương. - Tham gia hướng dẫn, huấn luyện nhân viên, học sinh y tế thực tập tại đơn vị, tham gia công tác hành chính, quản lý và bảo quản thuốc, dụng cụ, trang thiết bị y tế của Trạm y tế. - Thực hiện Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân và các quy định về chuyên môn của Bộ Y tế.