ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS là một bệnh hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, mang lại nhiều tác động tiêu cực đối với bản thân người nhiễm HIV và gia đình, tới nền kinh tế xã hội và đặc biệt đối với hệ thống y tế của mỗi quốc gia, đồng thời là một vấn đề xã hội nên ngoài việc phải chịu đựng những đau đớn, bệnh tật về mặt thể xác, người nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ còn phải chịu sự kỳ thị và phân biệt đối xử của cộng đồng. Do đó, để đảm bảo chất lượng cuộc sống, giảm nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng và có khả năng đóng góp cho xã hội, họ cần được chăm sóc, hỗ trợ cả về mặt thể chất và tinh thần. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới WHO và chương trình phối hợp Liên hiệp quốc về phòng, chống HIV/AIDS UNAIDS đến tháng 12/2008 toàn thế giới có khoảng 33,4 triệu người hiện đang bị nhiễm HIV, trong đó có hơn 2 triệu người đã tử vong vì AIDS. Mặc dù tình hình dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục gia tăng phổ biến ở miền Đông Châu Âu, trung tâm Châu Á và những vùng khác của Châu Á vì tỉ lệ nhiễm HIV mới cao nhưng nhìn chung dịch xuất hiện ổn định ở hầu hết các vùng.
Vùng Châu Phi cận Saharan là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nhất, chiếm 71% tất cả trường hợp nhiễm HIV mới năm 2008. Dịch HIV đang có xu hướng gia tăng trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới, đặc biệt tại các nước có thu nhập cao[29], [31]. Tại Việt Nam kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1990, tính đến 30/9/2010 tổng số người nhiễm HIV còn sống 180.312 người, số trường hợp chuyển sang AIDS còn sống là 42.339 người và đã có 48.368 người tử vong do AIDS. Dịch HIV đang có xu hướng chững lại và không tăng như những năm trước đây nhưng về cơ bản vẫn chưa khống chế được tình hình dịch ở Việt Nam[2], [4].
Lứa tuổi nhiễm HIV chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20-29 tuổi, chiếm hơn 50%, tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, nhiễm HIV trong nhóm 30-39 tuổi có xu hướng tăng hơn so với các năm trước. Nam giới vẫn chiếm tỷ lệ nhiễm HIV cao, tuy nhiên trong những năm gần đây, tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ có sự thay đổi. Tỷ lệ nữ giới bắt đầu tăng từ 15% năm 2005 đến 23% năm 2009, dự báo trong tương lai tỷ lệ người nhiễm HIV là nữ giới có xu hướng tăng[3], [7]. 2 Hiện nay nhiễm HIV không chỉ tập trung trong nhóm có hành vi nguy cơ cao như nghiện chích ma túy, gái mại dâm mà rất đa dạng về ngành, nghề như lao động tự do, công nhân, nông dân, bộ đội, công an, học sinh, sinh viên, nhân viên hành chính, phạm nhân và trẻ em.
Điều này cũng phù hợp về hình thái lây truyền, khi lây truyền qua quan hệ tình dục gia tăng làm đa dạng hơn về ngành nghề của đối tượng nhiễm và nguy cơ lây nhiễm HIV ra cộng đồng sẽ cao hơn. Sơn La là một trong bốn tỉnh có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất trong cả nước[3], tính đến tháng 9/2010, tỉnh Sơn La đã phát hiện 7.438 trường hợp nhiễm HIV, chuyển sang AIDS 2.304 và tử vong 1. Nhiễm HIV tập trung ở các huyện Mai Sơn, thành phố Sơn La, Thuận Châu, Mường La, Mộc Châu, Sông Mã. Hình thái lây nhiễm HIV tại tỉnh Sơn La từ đầu vụ dịch đến nay chủ yếu vẫn là do lây truyền do tiêm chung bơm kim tiêm và quan hệ tình dục với gái mại dâm[18].
Là huyện có tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất tỉnh Sơn La, cho đến nay huyện Mai Sơn đã có hơn 1,542 trường hợp nhiễm HIV số tích lũy , 436 trường hợp chuyển giai đoạn AIDS và 275 trường hợp tử vong. Là một huyện miền núi, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, đường xá đi lại khó khăn, thông tin cập nhật chưa đầy đủ, do đó công tác phòng, chống HIV/AIDS nói chung và đặc biệt là công tác hỗ trợ, điều trị người nhiễm HIV/AIDS tại huyện gặp nhiều khó khăn, trở ngại[18]. Tỉnh Sơn La bắt đầu triển khai chương trình điều trị ARV từ năm 2005 cho đến nay 30/9/2010 số bệnh nhân hiện đang được điều trị là 706 người[18]. Mặc dù tình hình dịch đến năm 2010 cho thấy nhiều khả năng khống chế được tốc độ tăng của dịch nhưng số trường hợp nhiễm mới vẫn đang gia tăng ổn định theo từng năm cũng góp phần làm tăng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV tại địa phương.
Để đảm bảo cung cấp các dịch vụ điều trị cho người nhiễm HIV một cách toàn diện và đạt độ bao phủ cao trên toàn tỉnh Sơn La. Sở Y tế, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng huyện Mai Sơn, BVĐK huyện Mai Sơn với sự tài trợ của Tổ chức LIFE-GAP hình thành dự án “hỗ trợ và điều trị HIV/AIDS” tại huyện Mai Sơn bao gồm hoạt động của PKNT và các hoạt động phối kết hợp các dịch vụ có liên quan với mục đích “Nâng cao chất lượng 3 cuộc sống của những người sống chung với HIV/AIDS thông qua việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ và điều trị có chất lượng”. Việc đánh giá kết quả hoạt động và bài học rút ra từ hoạt động can thiệp sau khi triển khai sẽ giúp cho việc định hướng hoạt động cho chương trình hỗ trợ và điều trị của huyện, tỉnh cũng như của nhà tài trợ trong những năm sắp tới. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Đánh giá quá trình triển khai hoạt động chăm sóc và điều trị ARV cho người nhiễm HIV/AIDS tại Phòng khám ngoại trú huyện Mai Sơn, giai đoạn từ tháng 4/2009 đến 9/2010. Đánh giá kết quả điều trị ARV cho người nhiễm HIV/AIDS tại Phòng khám ngoại trú huyện Mai Sơn. Xác định một số yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai chương trình điều trị ARV tại Phòng khám ngoại trú huyện Mai Sơn, rút ra bài học kinh nghiệm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm, định nghĩa, phân loại về HIV/AIDS và điều trị HIV/AIDS. Một số khái niệm, định nghĩa và phân loại về HIV: HIV là tên viết tắt tiếng Anh của cụm từ “Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người”. Khi vi rút này vào máu, nó sẽ phá hủy dần các tế bào miễn dịch, làm giảm khả năng đề kháng và chống trả bệnh tật của cơ thể người[15]. AIDS là tên viết tắt tiếng Anh của cụm từ “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người” do HIV gây nên.
AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, ở giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể đã suy yếu trầm trọng[15]. Người nhiễm HIV là người mang vi rút HIV trong máu, giai đoạn đầu không có biểu hiện triệu chứng gì bên ngoài, chẩn đoán chủ yếu dựa vào xét nghiệm và họ có thể truyền HIV cho người khác ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình nhiễm HIV. Nhiễm HIV được chia làm 4 giai đoạn, phụ thuộc vào các bệnh lý liên quan đến HIV như tình trạng sụt cân, các nhiễm trùng cơ hội, các bệnh ác tính, mức độ hoạt động về thể lực. - Giai đoạn 1 (Giai đoạn cửa sổ): Không có biểu hiện gì hoặc chỉ có ít triệu chứng giống như biểu hiện của các bệnh nhiễm các vi rút khác, thường gặp là sốt, đau đầu mệt mỏi, hạch sưng ở vài nơi hoặc phát ban dạng sở hoặc sẩn ngứa trên da.
Tuy nhiên các biểu hiện trên sẽ khỏi sau 7-10 ngày, xét nghiệm HIV vẫn có thể cho kết quả âm tính[9]. - Giai đoạn 2 (Giai đoạn nhiễm HIV không có triệu chứng): Rất thường gặp ở người nhiễm HIV, họ không có biểu hiện bệnh tật ra bên ngoài nhưng xét nghiệm HIV thông thường cho kết quả dương tính. Giai đoạn này kéo dài từ 8-10 năm hoặc lâu hơn tùy thuộc vào hành vi của người nhiễm HIV[9]. - Giai đoạn 4 (Giai đoạn AIDS): Có ít nhất 2 trong số các triệu chứng chính và 6 1 trong số các triệu chứng phụ sau[9]: Triệu chứng chính: Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể, tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng, sốt kéo dài trên 1 tháng.
Triệu chứng phụ: Ho dai dẳng trên 1 tháng, nhiễm nấm Candida ở hầu họng, nổi ban, mẩn ngứa toàn thân, nổi mụn rộp Herpes, Zona , nổi hạch nhiều nơi trên cơ thể. Tư vấn HIV/AIDS: Là quá trình trao đổi, cung cấp các kiến thức, thông tin cần thiết về phòng, chống HIV/AIDS giữa người tư vấn và người được tư vấn nhằm giúp người được tư vấn tự quyết định, giải quyết các vấn đề liên quan đến dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV[8], [15]. Kỳ thị: Là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người khác. Kỳ thị người có liên quan đến HIV là thái độ khinh thường, thiếu tôn trọng người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc người đó bị nghi ngờ nhiễm HIV[15].
Phân biệt đối xử: Là hành vi xa lánh, từ chối, tách biệt, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác. Đối với vấn đề HIV/AIDS, phân biệt đối xử người nhiễm HIV là biểu hiện của một hoặc nhiều hành vi nêu trên đối với một người vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc nghi ngờ nhiễm HIV[15]. Phân giai đoạn miễn dịch: Tình trạng miễn dịch của người lớn nhiễm HIV được đánh giá thông qua chỉ số tế bào CD4[1]. Mức độ Số tế bào CD4/mm3 Bình thường hoặc suy giảm không đáng kể >500 Suy giảm nhẹ 350-499 Suy giảm tiến triển 200-349 Suy giảm nặng <200 1.
Điều trị thuốc kháng virus (ARV)[1]: 1. Mục đích của điều trị ARV: Ức chế sự nhân lên và kìm hãm lượng virus trong máu ở mức thấp nhất. 7 Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng cơ hội. Cải thiện chất lượng sống và tăng khả năng sống sót cho người bệnh.
Nguyên tắc điều trị ARV: Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS. Điều trị ARV chủ yếu là điều trị ngoại trú và được chỉ định khi người bệnh có đủ tiêu chuẩn lâm sàng, và/hoặc xét nghiệm và chứng tỏ đã sẵn sàng điều trị. Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc. Điều trị ARV là điều trị suốt đời; người bệnh phải tuân thủ điều trị tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tính kháng thuốc.