Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học nghiện rượu Theo thống kê, ước tính có tới 1/3 dân số thế giới có sử dụng rượu bia [54]. Ở một số nước trên thế giới, tình trạng lạm dụng rượu vô cùng nghiêm trọng. Điển hình như Pháp là nước đứng đầu về sử dụng rượu với ước tính khoảng 20 lít cho một người dân trong một năm, và số người nghiện rượu khoảng 5 triệu người [63].
Ở Nga, nhu cầu sử dụng rượu ngày càng tăng, trung bình lượng rượu tiêu thụ trên đầu người là khoảng 15 lít/năm, số người nghiện rượu lên đến 20 triệu người [54]. Tại Nhật Bản, số người nghiện rượu vào khoảng 2,4 triệu người, có 20% bệnh nhân mắc xơ gan do rượu [54]. Ở Mỹ, lượng rượu tiêu thụ tính theo đầu người là khoảng 8,5 lít/năm. Theo số liệu thống kê của Mỹ, năm 2003 có hơn 2 triệu người mắc bệnh gan do rượu và gây tử vong 27.035 người, ở Anh là 7,6 trường hợp tử vong/100., Nguyễn Đăng Dung nêu một số nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu ở các nước trung bình khoảng 12-17% dân số, tỷ lệ nghiện rượu khoảng 3-5% dân số.
Tuổi nghiện rượu có xu hướng ngày càng trẻ hóa [56],[57],[62]. Theo Nguyễn Kim Việt có 3,6% học sinh lớp 12 ở Hoa Kỳ uống rượu hàng ngày [42]. Ở Việt Nam, theo một số nghiên cứu tỷ lệ nghiện rượu ở nam giới trên 16 tuổi chiếm khoảng 3% [13],[19],[34]. Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn và Lý Trần Tình, nghiện rượu ở người trên 15 tuổi chiếm tỷ lệ 3,24% [33].
Nghiện rượu theo y học hiện đại 1. Khái niệm nghiện rượu - Về mặt số lượng: Viện hàn lâm khoa học Pháp xác định nghiện rượu là sử dụng hàng ngày vượt quá 1ml cho 1kg cân nặng hoặc 3/4 lít rượu vang 100 cho một người đàn ông 70kg [38]. - Về mặt xã hội: Nghiện rượu là tất cả những hình thái uống rượu vượt quá việc sử dụng thông thường và truyền thống. - Theo WHO năm 1993, nghiện rượu là sự thèm muốn dẫn đến sự đòi hỏi thường xuyên nước uống có rượu, dẫn đến rối loạn nhân cách, thói quen, giảm khả năng hoạt động ảnh hưởng đến sức khoẻ [6].
Yếu tố thuận lợi 1. Yếu tố về tuổi Yếu tố tuổi tác rất có ý nghĩa trong việc phát sinh và phát triển nghiện rượu. Nghiện rượu xảy ra ở lứa tuổi thanh thiếu niên là nhiều hơn cả và rất nhanh chóng chuyển sang giai đoạn nặng với những biểu hiện lâm sàng nghiện rượu ngày càng rõ nét hơn. Ở nhóm tuổi trẻ, rối loạn nhân cách thường trầm trọng hơn, biểu hiện bệnh não thực tổn do rượu nặng nề hơn, rất nhanh chóng chuyển sang rối loạn tâm thần do nghiện rượu và thường gặp là các trạng thái cấp tính [58].
Nghiện rượu khi xảy ra ở thời kỳ trước tuổi già diễn biến rất nhanh chóng và dẫn đến bệnh não thực tổn do nhiễm độc. Trong các trường hợp này ít gặp rối loạn tâm thần cấp tính mà chủ yếu là các triệu chứng rối loạn tâm thần do nghiện rượu mạn tính [41]. Các rối loạn về cơ thể cũng xảy ra rất sớm. Hiện nay, nghiện rượu ở phụ nữ cũng khá phổ biến, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển.
Nghiện rượu ở phụ nữ về lâm sàng có nhiều nét riêng biệt. Nhịp độ tăng nhanh và diễn biến nặng hơn ở nam giới. Một số tài liệu khác Luan van 5 lại đưa ra các bằng chứng cho thấy nghiện rượu ở phụ nữ không nặng nề như ở nam giới (thiếu các yếu tố làm nặng nề thêm) [37]. Khác với thèm rượu bệnh lý ở nam giới, ở nữ giới, trong 1-2 năm đầu đã có triệu chứng phụ thuộc rượu thực tổn và hội chứng cai.
Biến đổi nhân cách do rượu ở phụ nữ thay đổi với nhịp độ nhanh hơn. Yếu tố di truyền Người ta nghiên cứu trên những cặp vợ chồng nghiện rượu thấy con của họ có nguy cơ nghiện rượu gấp 2 lần so với con của những cặp vợ chồng có sử dụng rượu nhưng không nghiện. Khi so sánh với người bình thường thì tỷ lệ này tăng cao hơn [36]. Yếu tố văn hoá Tùy thuộc vào lối sống, phong tục, tập quán của từng dân tộc mà tỷ lệ người nghiện rượu có khác nhau [38].
Yếu tố tâm lý- xã hội Những cá nhân dễ chịu tác động của yếu tố môi trường hay xã hội dễ bị lệ thuộc không chỉ là rượu mà còn lệ các chất gây nghiện khác như cà phê, thuốc lá, thuốc phiện,. Những yếu tố xã hội như hệ thống luật pháp, kinh tế, thái độ xã hội đều có liên quan đến mức độ phổ biến nghiện rượu. Yếu tố nghề nghiệp Yếu tố này cũng được chứng minh có liên quan mật thiết đến nghiện rượu [44]. Ảnh hưởng của rượu đối với cơ thể Ảnh hưởng của rượu đối với cơ thể của con người có 2 đặc điểm chính: trực tiếp, nhất thời để gây ra trạng thái say và có hệ thống, dẫn đến trạng thái phụ thuộc, gây ra bệnh nghiện rượu.
Nghiện rượu dẫn đến hàng loạt các rối Luan van 6 loạn cơ thể, thần kinh và tâm thần khác nhau. Mức độ các rối loạn này phụ thuộc vào mức độ say rượu. Say rượu được chia thành 3 mức độ [6],[29],[59]. Mức độ nhẹ Say rượu mức độ nhẹ thấy ngưỡng tri giác giảm rõ rệt, rối loạn chú ý, phản ứng chậm, tư duy logic giảm sút, hiểu biết xung quanh rất khó khăn, khả năng phê phán giảm, khí sắc dao động và thường là tăng, hay nổi khùng, dễ bị kích thích, thậm chí rất hung bạo.
Các triệu chứng trên thường phối hợp với rối loạn vận động và rối loạn ngôn ngữ [6]. Mức độ trung bình Say rượu mức độ trung bình rối loạn chú ý nặng hơn, bệnh nhân hay đãng trí, tri giác thiếu chính xác và sai thực tại. Quá trình hoạt động trí tuệ diễn ra với nhịp độ chậm hơn trước. Xuất hiện tư duy lai nhai.
Các ham thích cũ tăng lên đặc biệt là hoạt động tình dục. Nổi bật trong giai đoạn này là hành vi hung bạo, tấn công và thường xảy ra ẩu đả đánh nhau gây nhiều phiền phức cho xung quanh. Xuất hiện các rối loạn phối hợp động tác làm cho bệnh nhân đi lại loạng choạng và nói khó [6],[59]. Mức độ nặng Say rượu mức độ nặng được biểu hiện bằng trạng thái choáng váng ngày càng tăng.
Những giấc ngủ sâu kéo dài hơn. Trong nhiễm độc rượu nặng có thể gây ra trạng thái bán hôn mê hoặc hôn mê kèm theo các rối loạn cơ thể nặng. Nhiều trường hợp cần phải rửa dạ dày, trợ tim mạch và hô hấp. Lượng rượu trong máu những người nghiện rượu thường khá cao (mức độ nhẹ: 2%; mức độ trung bình 2-5%; mức độ nặng, nồng độ rượu trong máu lên đến trên 5%).
Có thể tính lượng rượu trong máu theo trọng lượng cơ thể để định mức độ nhẹ: 1-1,5ml/kg; trung bình: 1,5-2,5ml/kg; nặng 2,5-3,5ml/kg. Tuy nhiên, tình trạng lâm sàng là cơ sở chủ yếu để đánh giá nghiện rượu [29]. Triệu chứng lâm sàng Tiến triển của quá trình nghiện rượu trải qua 3 giai đoạn: giai đoạn đầu là giai đoạn suy nhược thần kinh; giai đoạn thứ 2 có biểu hiện lâm sàng đa dạng của hội chứng cai. Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn bệnh não thực tổn do rượu, có nhiều biểu hiện rối loạn tâm thần phức tạp và nặng nề cùng với các rối loạn thần kinh thực tổn đa dạng.
Đối với giai đoạn này người ta coi như giai đoạn rối loạn tâm thần mạn tính do rượu. Giai đoạn I (giai đoạn suy nhược thần kinh) Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng trong giai đoạn này có thể phân biệt được nghiện rượu với say rượu. Việc phân biệt đó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chẩn đoán sớm nghiện rượu. Một trong những dấu hiệu chủ yếu và sớm nhất trong giai đoạn nghiện rượu là say rượu bệnh lý (pathological drunkenness), sự ám ảnh thường xuyên và sau đó là mất sự kiểm soát số lượng rượu được sử dụng.
Biểu hiện nổi bật ở giai đoạn này là thay đổi tính phản ứng cơ thể và phụ thuộc tâm lý đối với rượu. Triệu chứng đầu tiên của nghiện rượu là mất phản xạ nôn tự vệ hay là mất nôn khi uống rượu quá liều. Có biến đổi khả năng dung nạp rượu, do đó người bệnh sử dụng được liều rượu cao hơn liều tối đa cho phép. Cũng trong giai đoạn này có thể có rối loạn trí nhớ và thay đổi tính nết rõ ràng.
Họ trở nên độc ác, hay quấy nhiễu, dễ nổi khùng, hay đa nghi. Các triệu chứng rối loạn tâm thần nói trên đều được hình thành và phát triển trên nền suy nhược thần kinh (trạng thái uể oải, đuối sức, làm việc chóng mệt mỏi, rối loạn chú ý, đau đầu, mất ngủ, giảm sút quá trình hoạt động trí tuệ). Tất cả những rối loạn đó làm cho khả năng lao động giảm sút và chất lượng công việc kém. Bệnh nhân thường có nhu cầu bắt buộc đối với rượu, luôn có ám ảnh thèm rượu, tranh thủ mọi cơ hội, tìm mọi cớ để uống rượu, liều rượu uống trong Luan van 8 24 giờ đối với rượu vang là 1000ml đối với rượu trắng là 400-500ml và có thể hơn nữa.
Giai đoạn này có thể kéo dài từ 1-6 năm, phụ thuộc vào cường độ của nhu cầu bắt buộc đối với rượu. Có thể gặp các rối loạn chức năng hệ thần kinh, rối loạn vận mạch, rối loạn huyết áp, viêm thực quản, viêm dạ dày, viêm đại tràng, rối loạn chức năng gan, viêm gan, viêm tụy [29]. Giai đoạn II (giai đoạn có biểu hiện hội chứng cai) Trong giai đoạn này biểu hiện của trạng thái phụ thuộc thực thể chiếm ưu thế. Tình trạng say rượu bệnh lý ngày càng gia tăng, không tự kiềm chế được và có tính chất cưỡng bức (thèm bắt buộc).
Bệnh nhân không đủ nghị lực để đấu tranh chống lại cơn thèm rượu. Các triệu chứng ở giai đoạn I không những không biến mất mà còn phát triển tăng lên. Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là hội chứng cai xảy ra khi bệnh nhân không uống rượu vài giờ hoặc một ngày. Hội chứng cai được biểu hiện bằng các triệu chứng rối loạn tâm thần cũng như các triệu chứng rối loạn thần kinh và các rối loạn cơ thể.
Các triệu chứng này chỉ giảm hoặc mất đi khi bệnh nhân uống rượu trở lại. Các triệu chứng rối loạn tâm thần ở đây rất rõ ràng. Trên nền khí sắc giảm xuất hiện trạng thái buồn rầu, dễ bực tức, giận dữ, độc ác, đa nghi. Bệnh nhân cảm thấy sợ hãi vô duyên cớ và có các ý tưởng tự buộc tội mình, có thể có ảo thị giác và ảo thính giác thật.