Đặt vấn đề Đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông – lâm nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp là hợp thành của chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững và cân bằng sinh thái. Những năm qua ở nước ta việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển sang công nghiệp và đô thị đã diễn ra rất nhanh, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và có nguy cơ tiếp tục giảm mạnh. Con người đã và đang khai thác quá mức mà chưa có biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai.
Hiện nay, việcKhóa sử dụng luận đất đai Nông lâm hợp lý, xây dựngngư một nền nông nghiệp sạch, sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng đảm bảo môi trường sinh thái ổn định và phát triển bền vững đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Thực chất của mục tiêu này chính là vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội và môi trường. Do phải chịu sức ép dân số gia tăng nên nhiều năm trước đây vấn đề sản xuất nông nghiệp nước ta có phần không trú trọng đến việc bồi bổ đất đai mà chỉ quan tâm đến năng suất, sản lượng. Chính vì vậy hệ sinh thái nông nghiệp đã bị thay đổi đáng kể về tính bền vững trong hệ thống nông nghiệp không còn được duy trì.
Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ làm thái hóa đất, đặc biệt ở các tỉnh trung du miền núi nước ta. Xã Hòa Bình thuộc huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn có diện tích 37,57 km², người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Do đất đai có độ phì thấp, hiệu quả sản xuất không cao nên để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao 2 về lương thực thực phẩm, đồng thời góp phần tăng thu nhập cho người dân, thâm canh trên một đơn vị diện tích đất được coi là biện pháp hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, nếu thâm canh không hợp lý nhiều khi lại làm tăng nhanh mức độ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, làm giảm nhanh sức sản xuất của đất.
Vì vậy, trong quá trình khai thác, sử dụng của người dân sẽ không tránh khỏi tình trạng sử dụng đất không hợp lý nên hiệu quả sử dụng đất mang lại không cao. Để giải quyết vấn đề này chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và định hướng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Hòa Bình, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn năm 2018”. Mục tiêu đề tài - Đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của xã Hòa Bình; - Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất của xã; - Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao; Khóa luận Nông lâm ngư - Đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong trường học và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở; - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài; - Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp từ đó đề xuất những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao, bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp 2. Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 2. Khái niệm đất nông nghiệp Đất đã có từ lâu nhưng khái niệm về đất mới có từ thế kỷ XVIII.
Trong từng lĩnh vực khác nhau, các nhà khoa học khái niệm về đất khác nhau. Theo nhà bác học người Nga DDocutraiep năm 1987 đưa ra định nghĩa: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”.Sau này người ta bổ sung thêm yếu tố thứ sáu là con người. Các Mác cho rằng: “Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại Khóa luận Nông lâm ngư và tái sinh của hang loạt thế hệ người kế tiếp nhau”. Theo quan điểm sinh thái đất được định nghĩa: Đất là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp.
Theo quan điểm của đánh giá đất thì đất đai được định nghĩa là một vùng đất mà đặc tính của nó được xem như bao gồm các đặc trưng tự nhiên quyết định đến khả năng khai thác được hay không mà ở mức độ nào của vùng đó. Thuộc tính của đất bao gồm khí hậu, thổ nhưỡng, lớp địa chất bên dưới, thủy văn, động vật, thực vật và những tác động trong quá khứ cũng như hiện tại của con người. Theo luật đất đai năm 2013: Đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng,đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.2 Phân loại đất nông nghiệp Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: - Đất rừng sản xuất; - Đất rừng phòng hộ; - Đất rừng đặc dụng; - Đất nuôi trồng thủy sản; - Đất làm muối; -Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
Vai trò của đất nông nghiệp Đất đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Các Mác đã nhấn mạnh “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất”. Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người Khóa luận Nông lâm ngư thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hóa học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm. Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất đất đai sẽ ngày càng tăng lên. Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa lục. Đặc biệt là đất đai nông nghiệp, sự giới hạn về diện tích đất còn thể hiện ở khả năng có hạn về khai hoang tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể.
Do vậy trong quá trình sử dụng đất cần hết sức quý trọng và tiết kiệm thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng của xã hội. 5 Như vậy: Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được. Nhưng diện tích đất đai lại có hạn, bên cạnh đó sự gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho diện tích đất đai ngày càng giảm đặc biệt là đất nông nghiệp. Mặt khác hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đã ảnh hưởng lớn đến diện tích, năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp.
Vì vậy sử dụng đất đai một cách hợp lý là một trong những điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội. Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọng khác nhau. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới Tổng diện tích bề mặt của toàn thế giới là 510 triệu km2 trong đó đại Khóa luận Nông lâm ngư dương chiếm 361 triệu km2 (71%), còn lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 149 triệu km2 (29%).
Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn nhiều so với Nam bán cầu. Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu ha, chiếm khoảng 22% diện tích đất liền. Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới dược phân bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 6%. Bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.
Đất trồng trọt trên toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10,8% tổng diện tích đất đai, 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp như vậy còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác. Diện tích đất canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng 1.500 triệu ha), được đánh giá là: - Đất có năng suất cao: 14% - Đất có năng suất trung bình: 28% - Đất có năng suất thấp: 58% 6 Nguồn tài nguyên đất trên Thế giới hàng năm luôn bị giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp mất đi do chuyển sang mục đích sử dụng khác. Mặt khác dân số ngày càng tăng, theo ước tính mỗi năm dân số Thế giới tăng từ 80 - 85 triệu người. Như vậy, với mức tăng này mỗi người cần phải có 0,2 – 0,4ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm.
Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng của đất nông nghiệp là hết sức cần thiết. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam 2.1 Quỹ đất nông nghiệp Việt Nam. Đất nước chúng ta trải dài từ Bắc đến Nam với việc phân thành 7 vùng kinh tế để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng.