Đặt vấn đề Ngày nay tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng phát triển và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong nhiều vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn trong đó vấn đề ô nhiễm nguồn nước do nước thải bệnh viện thải ra đang là mối quan tâm lo ngại của các cấp, các ngành quản lí và là nỗi lo sợ của người dân vì chúng có thể gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và nguy hại đến đời sống con người. Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Quảng thuộc thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng là bệnh viện hạng III. Điều quan tâm hàng đầu đối với nước thải của bệnh viện là vấn đề vi trùng gây bệnh và thuốc kháng sinh, thuốc sát trùng.
Các vi trùng gây bệnh có thể tồn tại trong một thời gian nhất định ngoài môi trường khi có cơ hội nó sẽ phát triển trên một vật chủ khác và đó chính là hiện tượng lây lan các bệnh truyền nhiễm. Đây chính là điểm khác biệt của nước thải bệnh viện so với các loại nước thải khác. Ngoài ra các chất kháng sinh và thuốc sát trùng xuất hiện cùng với dòng nước thải sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có lợi và có hại gây ra sự phá vỡ hệ cân bằng sinh thái trong hệ các vi khuẩn tự nhiên của môi trường nước thải, làm mất khả năng xử lý nước thải của vi sinh vật nói chung. Dân số ngày càng tăng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu đó thì số bệnh viện cũng tăng.
Một trong những vấn đề đang cần được quan tâm là việc quản lý, xử lý nước thải y tế, hầu hết các bệnh viện ở nước ta vẫn chưa trang bị các phương pháp xử lý đạt tiêu chuẩn, vẫn còn tình trạng xả thải ra ngoài môi trường mà chưa qua quá trình hay hệ thống xử lý nào. n 2 Xuất phát từ tình hình trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng nước thải của bệnh viện Đa khoa huyện Hà Quảng, Tỉnh Cao Bằng”. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Tìm hiểu hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa huyện Hà Quảng. - Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải của bệnh viện.
- Kiến nghị một số biện pháp giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường nước của bệnh viện trên địa bàn huyện Hà Quảng. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Nghiên cứu sơ lược về bệnh viện Đa khoa huyện Hà Quảng. - Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của bệnh viện. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nước thải bệnh viện.
Yêu cầu của đề tài - Kết quả phân tích phải chính xác, khách quan, trung thực. - Những kiến nghị đưa ra phải khả thi phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học - Giúp vận dụng kiến thức đã học vào rèn luyện kỹ năng điều tra tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế.
- Tạo cho sinh viên cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác bảo vệ môi trường. - Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học. - Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao phương pháp làm việc có khoa học, giúp bố trí được thời gian và công việc một cách hợp lý.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa huyện Hà Quảng. - Cảnh báo nguy cơ ô nhiễm nước thải y tế nếu không được thu gom và xử lý theo quy định. Đề xuất một số biện pháp khả thi giúp cho công tác thu gom và xử lý nước thải y tế một các phù hợp và khoa học với điều kiện của Bệnh viện nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nâng cao kiến thức, kĩ năng tổng hợp phân tích số liệu và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở pháp lý Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII kì họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Luật số 17/2012/QH13 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về luật tài nguyên nước. - Nghị định số 149/2004/NĐ- CP ngày 27 tháng 07 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước. - Nghị định số 34/2005/NĐ- CP ngày 17 tháng 02 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước. - Nghị định số 179/2013/NĐ- CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 02/2005/TT- BTNMT ngày 24 tháng 05 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thực hiện Nghị đinh 149/2004/NĐ - CP ngày 27 tháng 07 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước. - Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế (Số 43/2007/QĐ - BYT) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005). - Quyết định số 153/2006/QĐ- TTg ngày 30/06/2006 của thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020. n 5 - Quyết định số 81/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
- QCVN 28: 2010/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế. Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường a. Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường * Khái niệm về môi trường - Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. - Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người.
Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định. - Theo Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005 “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” [14]. - Theo điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2014 “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [15]. n 6 Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường - Theo Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005 “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường” [14]. - Theo điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Viêt Nam năm 2014 “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sinh vật” [15]. - Ô nhiễm môi trường là khái niệm để chỉ sự xuất hiện của một chất lạ trong môi trường tự nhiên hoặc làm biến đổi thành phần, tỷ lệ về hàm lượng của các yếu tố có sẵn, gây độc hại cho cơ thể sinh vật và con người nếu như hàm lượng của các chất đó vượt khỏi giới hạn thích nghi tiềm tàng của cơ thể. - Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của các hoạt động tự nhiên, như hoạt động núi lửa, thiên tai lũ lụt, bão,… hoặc các hoạt động do con người thực hiện trong công nghiệp, giao thông, chiến tranh và công nghệ quốc phòng, trong sinh hoạt, trong đó công nghiệp được xem là nguyên nhân lớn nhất.
- Chất gây ô nhiễm môi trường rất đa dạng về nguồn gốc và chủng loại, tuy vậy chúng được phân chia thành 3 nhóm lớn: chất thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí. Mỗi dạng có thể chứa đựng nhiều chất, từ các hóa chất, các kim loại nặng, đến chất phóng xạ và vi trùng. Nhiệt cũng là tác nhân trực tiếp hay gián tiếp gây nên sự ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật. n 7 Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm. bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí.