MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bước vào thế kỷ XXI, cùng với những cơ hội phát triển mạnh mẽ, loài người cũng đứng trước những thách thức lớn như vấn đề gia tăng dân số, năng lượng, lương thực, đặc biệt là vấn đề môi trường, một vấn đề đang được cả nhân loại hết sức quan tâm, đe dọa nghiêm trọng s ự ổn đ ịnh và phát triển của tất cả các nước trên thế giới. Nguy cơ môi trường đang ở tình trạng báo động ở những quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam. Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, những lợi ích mà công nghiệp hóa - hiện đại hóa mang lại được thể hiện rất rõ qua tình hình tăng trưởng kinh tế, giáo dục, xã hội.
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với môi trường trong vùng lãnh thổ. Môi trường ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn, trong đó ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Trong đó có hoạt động của các nhà máy sản xuất xi măng cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Công ty cổ phần xi măng La Hiên VVMI là đơn vị sản xuất xi măng pooc lăng PCB 30, PCB 40, Clinker pooc lăng thương phẩm Cpc 40, Cpc 50, Cpc 60 được sản xuất theo dây truyền công nghệ lò quay phương pháp khô là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay.
Năng lực sản xuất sản phẩm trên 1.000 tấn/ năm đã góp phần rất lớn và sự phát triển lớn mạnh của công ty cổ phần xi măng La Hiên VVMI nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói chung. Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt, một mặt đóng góp vào sự phát triển kinh tế của tỉnh, của đất nước, song mặt khác sự tác động của nó tới môi trường là điều không tránh khỏi. Chất lượng môi h 2 trường bao gồm môi trường không khí, môi trường đất và môi trường nước đang bị ảnh hưởng bởi một trong những nguyên nhân là do hoạt động sản xuất của các khu sản xuất đó, đặc biệt là môi trường nước thải Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại Học Nông lâm – Thái nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải tại Công ty cổ phần xi măng La Hiên - VVMI’’. Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải sản xuất và sinh hoạt tại Công ty cổ phần xi măng La Hiên - VVMI 1. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của Công Ty cổ phần xi măng La Hiên – VVMI - Tìm hiểu và nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải tại Công Ty - Xác định mức độ ô nhiễm, nghiên nhân gây ô nhiễm môi trường nước thải 1. Yêu cầu - Đánh giá được hiện trạng môi trường nước thải sản xuất của Công ty cổ phần xi măng La Hiên – VVMI. - Số liệu thu được phản ánh trung thực, khách quan - Nguồn số liệu, tài liệu điều tra thu thập phải có độ tin cậy, chính xác, trung thực và khách quan.
- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra tính khả thi, phù hợp với điều kiện của công ty. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. h 3 - Rèn luyện kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu.
- Nâng cáo kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Bổ sung tư liệu cho học tập 1. Ý nghĩa thực tiễn - Tìm hiểu được mức độ ô nhiễm của ngành sản xuất xi măng - Phản ánh thực trạng chất lượng nước thải sản xuất Công ty cổ phần xi măng La Hiên - VVMI - Cảnh báo các vấn đề về ô nhiễm nước thải sản xuất và sinh hoạt - Giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm của công ty trong công tác bảo vệ môi trường.
- Làm căn cứ để các cơ quan chức năng tăng cường tuyên truyền giáo dục nhận thức của người dân về môi trường. - Đưa ra định hướng đúng đắn, phù hợp với phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Các khái niệm - Khái niệm môi trường Theo khoản 1 điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014, môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” (Luật bảo vệ môi trường Việt Nam, 2014).
[8] - Khái niệm về nước thải và ô nhiễm Nước thải là chất long được thải ra sau quá trình sử dụng của con người đã bị thay đổi tính chất ban đầu của nước. Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.[10] h 5 - Khái niệm về nước thải và ô nhiễm Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người đã bị thay đổi tính chất ban đầu của nước.[10] - Khái niệm Suy thoái môi trường Là sự suy giảm khả năng đáp ứng các chức năng của môi trường, mất nơi cư trú an toàn, cạn kiệt tài nguyên, xả thải quá mức ô nhiễm. Nguyên nhân gây suy thoái môi trường rất đa dạng gồm sự biến động của tự nhiên theo hướng không có lợi cho con người, sự khai thác tài nguyên quá khả năng phục hồi, do mô hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng dân số, nghèo đói, bất bình đẳng (Luật bảo vệ môi trường Việt Nam,2014).[8] - Các khái niệm nước thải Nước thải sinh hoạt là loại nước thải được phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của các cộng đồng dân cư trong khu công nghiệp, đô thi,… Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất như nước thải tiền hành vệ sinh công nghiệp.2 Các hoạt động gây ô nhiêm nước 2.1 Nguyên nhân tự nhiên Bất cứ một hiện tượng nào làm giảm chất lượng nước đều bị coi là nguyên nhân gây ô nhiễm nước. Ô nhiễm nước do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng.
Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm, hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn. Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ. Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải.
Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất. - Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt.) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu. - Sự suy giảm chất lượng nước có thể do đặc tính địa chất của nguồn nước ví dụ như: nước trên đất phèn thường chứa nhiều sắt, nhôm. Nước lấy từ lòng đất thường chứa nhiều canxi… 2.2 Nguyên nhân nhân tạo Hiện tại hoạt động của con người đang là nguyên nhân chính gây suy giảm chất lượng nguồn nước.
Có thể xếp thành các nguyên nhân sau: Mỗi ngày có một lượng lớn rác thải sinh hoạt thải ra môi trường mà không qua xử lý bên cạnh đó dân số ngày càng gia tăng dẫn đến lượng rác thải sinh hoạt cũng tăng theo. Ở các nước phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số h 7 khoảng 5 % trong khi đó tỷ lệ gia tăng dân số ở các nước đang phát triển là hơn 2 %. Ở Việt Nam với mức tăng dân số nhanh chóng đã đưa nước ta vào hàng thứ 12 trong các quốc gia có dân số đông nhất Thế giới. Trong vòng hơn 50 năm gần đây (1960- 2013), dân số nước ta tăng gần 4 lần từ 30,172 triệu người lên 90 triệu người.
Dân số tăng nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt và phát triển kinh tế tăng lên, các nguồn thải tăng, sự ô nhiễm môi trường nước cũng tăng lên. Nước thải sinh hoạt (Domestic wastewater): là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người. Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn. Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác nhau.
Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao. Các chất thải, nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp Tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng phát triển kéo theo các khu công nghiệp được thành lập. Do đó lượng rác thải do các hoạt động công nghiệp ngày càng nhiều và chưa được xử lý triệt để thải trực tiếp ra môi trường hay các con sông gây ảnh hưởng tới chất lượng nước. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường số: 55/2014/ QH13 đã được Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014.
- Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/06/2012. h 8 - Nghị định số Số: 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Nghị định Số: 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. - Nghị định Số: 80/2014/NĐ-CP ngày 06/08/20 của Chính phủ về thoát nước đô thị và khu công nghiệp.