Mở đầu Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, với những hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, sông suối, biển, rạn san hô,… tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú, đa dạng, bao gồm 11.458 loài động vật, 21.017 loài thực vật và khoảng 3.000 loài vi sinh vật, trong đó có rất nhiều loài được sử dụng để cung cấp vật liệu di truyền và có giá trị đặc biệt là các cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới,… Tuy nhiên, ĐDSH ở nước ta đang bị đe dọa và ngày càng suy thoái nhanh. Diện tích các khu vực hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp dần. Số loài và số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh hoặc bị bị đe dọa tuyệt chủng ở mức cao.
Các nguồn gen quý hiếm cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều. Suy thoái ĐDSH dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Để bảo tồn ĐDSH và duy trì hệ sinh thái này, trong những năm qua, Việt Nam đã tăng cường đầu tư cho các chương trình, dự án bảo tồn sinh học [4]. Vườn quốc gia Xuân Thủy là một khu rừng ngập mặn thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, là khu vực có hệ sinh thái đất ngập nước cửa sông ven biển điển hình ở Việt Nam.
Đây là rừng ngập mặn đầu tiên ở Việt Nam được quốc tế công nhận theo công ước Ramsar là rừng ngập mặn thứ 50 của thế giới. Vườn quốc gia Xuân Thủy được nâng cấp từ Khu bảo tồn đất ngập nước Xuân Thủy theo quyết định số 01/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 2 tháng 1 năm 2003 [6]. Vườn Quốc gia Xuân Thủy là một bãi bồi rộng lớn nằm ở phía đông nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, ngay tại cửa Ba Lạt của sông Hồng. Phù sa màu mỡ của sông Hồng và biển đã tạo dựng nên khu đất ngập nước với nhiều loài động thực vật hoang dã, nhất là các loài chim di cư quý hiếm.
n 2 Diện tích toàn bộ vườn khoảng 7.100 ha diện tích đất nổi có rừng và 4.000 ha đất rừng ngập mặn. Khu vực vùng lõi của vườn là diện tích đất ngập mặn trên ba cồn cát cửa sông là cồn Ngạn, cồn Lu và cồn Xanh thuộc xã Giao Thiện. Toàn bộ vùng đệm và vùng lõi của vườn nằm trên địa phận các xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải [6]. Hàng năm có tới khoảng 100 loài chim di cư chọn nơi đây là điểm lưu trú trên đường di cư về phương Nam trú đông, trong đó có tới 1/5 số lượng cò mỏ thìa của toàn thế giới.
Tại vườn ước tính có 219 loài chim nước sinh sống, nhiều loài gần như tuyệt chủng có tên trong sách đỏ thế giới, như: rẽ mỏ thìa, bồ nông, cò thìa, choi choi mỏ thìa, mòng biển, diệc đầu đỏ. Trên vùng đất ngập mặn này, dưới làn nước thủy triều có khoảng 167 loài động thực vật nổi và 154 loài động vật đáy. Về thực vật, vườn hiện có 192 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có nhiều loài rong tảo có giá trị kinh tế cao.Vườn có vị trí quan trọng đến môi trường sinh thái và cảnh quan cũng như đời sống của người dân tại khu vực vùng đệm và vùng lõi. Hiện nay, những tác động tiêu cực từ thiên nhiên như bão, lũ lụt, biến đổi khí hậu,… cũng như các hoạt động của con người đã và đang làm suy thoái hệ sinh thái và làm giảm tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn vườn quốc gia Xuân Thủy.
Đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Xuân Thủy - Nam Định’’ được thực hiện nhằm đánh giá đầy đủ hiện trạng công tác truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về ĐDSH của địa phương, từ đó đánh giá, đề xuất giải pháp thích hợp để nâng cao nhận thức cộng đồng về ĐDSH của địa phương. Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Hiện trạng công tác quản lý của khu bảo tồn vườn quốc gia Xuân Thủy. - Xác định một số yếu tố gây suy giảm đa dạng sinh học.
- Đánh giá nhận thức của của cộng đồng: người dân tại các xã vùng đệm, khách du lịch, cán bộ tại khu bảo tồn vườn quốc gia. - Đề xuất các giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng, tạo cân bằng phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân n 3 nhưng vẫn bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học. Yêu cầu của đề tài - Phản ánh đúng thực trạng nhận thức của người dân tại vùng đệm vườn quốc gia Xuân Thủy - Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, chính xác, khách quan. - Đảm bảo những kiến nghị, đề xuất phải mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương và cơ quan quản lý khu bảo tồn vườn quốc gia Xuân Thủy.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho nghiên cứu sau này. - Vận dụng và phát huy kiến thức đã học tập và nghiên cứu. - Là cơ sở, tài liệu cho các nghiên cứu khoa học về sau.
- Nâng cao khả năng học tập, nghiên cứu và tìm tài liệu tham khảo. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học và công tác quản lý khu bảo tồn. - Đề xuất một số giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tại khu vực. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Vài nét về ĐDSH và vai trò của ĐDSH Vài nét về ĐDSH Theo Công ước về đa dạng sinh học năm 1992: Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng các hệ sinh thái). - Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể. - Đa dạng loài là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê. - Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó.
Hệ sinh thái là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tác động lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng và trao đổi thông tin. * Đa dạng các hệ sinh thái - Hệ sinh thái trên cạn: + Trong các hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã và vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học. Các kiểu hệ sinh thái khác có thành phần loài nghèo hơn. Kiểu hệ sinh thái nông nghiệp và khu đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài vi sinh vật nghèo nàn [17].
+ Xét theo tính chất cơ bản là thảm thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng kín vùng thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng n 5 cao. Trong đó, các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật sau đây có tính ĐDSH cao hơn và đáng chú ý hơn cả: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới, kiểu rừng kín cây lá rộng, kiểu phụ rừng trên núi đá vôi [17]. - Hệ sinh thái đất ngập nước: + Theo Công ước Ramsar: Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước cháy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp. + ĐNN Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm ĐNN: ĐNN nội địa và ĐNN ven biển.
Trong đó, có một số kiểu có tính ĐDSH cao: • Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có chức năng và giá trị như cung cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ, bãi ăn và ương các loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác; xâm chiếm và cố định các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại tác động của sóng biển và bão tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã bản địa và di cư (chim, thú, lưỡng cư, bò sát) [17]. • Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á. Cà Mau là hai vùng đầm lầy than bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam [17]. • Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam.
Do đặc tính pha trộn giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt. • Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển ven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới. Quần xã rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn.
Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loài rùa biển và đặc biệt loài thú biển Dugon [17]. n 6 • Vùng biển quanh các đảo ven bờ: vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức độ ĐDSH rất cao với các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô, cỏ biển,…[17].