Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Đất đai Đất đai (Land) là một diện tích cụ thể trên bề mặt đất, nó được tạo ra từ các yếu tố: thổ quyển, sinh quyển, thủy quyển và khí quyển. Dưới tác động của hoạt động của con người sống trên đó có thể làm cho đất đai bị biến đổi theo chiều hướng tốt lên hoặc suy thoái (Nguyễn Thế Đặng và cs.
Một khái niệm khác thuộc lĩnh vực quản lý: Đất đai là những vùng đất có vị trí, ranh giới, diện tích cụ thể trên mặt đất. Các vùng đất này có thể ổn định theo thời gian, hoặc thay đổi theo chu kỳ là hoàn toàn chịu tác động của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012). Hoạt động quản lý sử dụng đất đai có hiệu quả phải được đánh giá theo số lượng, chất lượng. Như vậy việc đánh giá này phải được tiến hành thường xuyên và phải thật sự khách quan, nhất là trong đánh giá các hoạt động có tính nhạy cảm cao như sử dụng, quy hoạch, giao đất, thu hồi đất… (Đặng Kim Sơn và Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, 2011).
Con người không thể dùng tư liệu khác để thay thế đất đai, cũng không thể hủy được đất đai. Cho nên con người cần phải sử dụng hợp lý và triệt để đất đai, không ngừng nâng cao hệ số cải tạo đất, từ đó làm cho với số lượng hữu hạn, đất đai có thể ngày càng cho nhiều của cải, thỏa mãn yêu cầu của toàn xã hội (Vũ Trọng Khải, 2019). Trong sản xuất, con người kết hợp lao động sống và lao động quá khứ (vật hóa) vào đất. Ví dụ trong công nghiệp, không kể ngành công nghiệp khai khoáng, đất đai chỉ có chức năng làm các nền tảng, làm vị trí, trên đó hoàn thành cả quá trình sản xuất, làm cái địa bàn hoạt động mà thôi.
Quá trình sản xuất và cải tạo ra thành quả lao động (sản phẩm) trong ngành công nghiệp chế biến không phụ thuộc vào độ phì nhiêu của ruộng đất và các thuộc tính sẵn có trong đất (Trần Thị Thu Hiền, 2016). Tính chất của đất đai Đất đai có các đặc điểm khác với các loại tư liệu khác là: Có đặc điểm tạo thành, là sản phẩm của tự nhiên, có quá trình thay đổi và phát triển; Có tính hạn chế về số lượng; Có tính không đồng nhất về chất lượng, quy cách, tiêu chuẩn; Có tính không thay thế được; Có tính cố định về vị trí; Có tính ổn định lâu dài mà không phụ thuộc vào tác động của con người (Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, 2011). Vai trò của đất đai Các phân tích kinh tế theo cách truyền thống thường chia các yếu tố sản xuất thành ba loại: đất đai, lao động và vốn. Hai yếu tố đầu gọi là yếu tố ban đầu hay yếu tố khởi thủy của sản xuất bởi vì chúng có trước khi tiến hành sản xuất, sau đó là yếu tố kết quả của sản xuất, đó là vốn và các hàng hóa vốn.
Trong sản xuất, con người kết hợp lao động sống và lao động quá khứ (vật hóa) vào đất (Trần Thị Thu Hiền, 2016). Con người không thể dùng tư liệu khác để thay thế đất đai, cũng không thể hủy được đất đai. Cho nên con người cần phải sử dụng hợp lý và triệt để đất đai, không ngừng nâng cao hệ số cải tạo đất, từ đó làm cho với số lượng hữu hạn, đất đai có thể ngày càng cho nhiều của cải, thỏa mãn yêu cầu của toàn xã hội (Vũ Trọng Khải, 2019). Quản lý nhà nước về đất đai Quản lý đất đai là quản lý tất cả các hoạt động trực tiếp và gián tiếp trong sử dụng đất.
Hoạt động quản lý đất đai chính là phương thức của con người tác động vào đất và từ đó đất đai được sử dụng có hiệu quả và bền vững hơn (Nguyễn Thế Đặng và cs. Quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng là hoạt động có định hướng của người quản lý tới đối tượng quản lý một cách cụ thể, theo trình tự nhất định, theo tổ chức, liên kết với các cơ quan của người quản lý để đạt mục tiêu và kết quả tốt nhất. Thực chất của quản lý đất đai là cả quá trình với các nội dung quản lý như lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, tổ chức thực thi sử dụng đất, thanh tra giám sát và điều chỉnh trong quá trình vận hành (Terry, 1988). Công tác lưu trữ thông tin về đất đai, cập nhật theo giai đoạn các hoạt động quản lý sử dụng đất và tất cả những thông tin liên quan khác đến đất đai… đều là các nội dung của quản lý đất đai (United Nations, 1996).
n 5 Thực trạng hiện nay của Việt Nam là số hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất, nhất là chuyển khác nhóm đất ngày càng lớn. Vì vậy trong quản lý đất đai, cấp phép cho các dự án đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, sân gôn… từ đất sản xuất nông nghiệp sang các loại đất khác rất cần phải theo quy hoạch thống nhất của Nhà nước (Đỗ Kim Chung, 2018). Cũng có khá nhiều ý kiến thống nhất rằng chính quyền của quốc gia hay địa phương tiến hành sử dụng kết hợp tất cả các công cụ và kỹ thuật trong quá trình quản lý sử dụng đất chính là quản lý đất đai (Georgia, 2001; Engelke and Vancutsem, 2012; World Bank, 2010). Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định: Giao đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Cho thuê đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài.
- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, Công tác lưu trữ thông tin về đất đai, cập nhật theo giai đoạn các hoạt động quản lý sử dụng đất và tất cả những thông tin liên quan khác đến đất đai… đều là các nội dung của quản lý đất đai - Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất Công tác lưu trữ thông tin về đất đai, cập nhật theo giai đoạn các hoạt động quản lý sử dụng đất và tất cả những thông tin liên quan khác đến đất đai… đều là các nội dung của quản lý đất đai. Theo quy định tại Điều 105 Luật đất đai năm (2013): Điều 105. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: - Quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng là hoạt động có định hướng của người quản lý tới đối tượng quản lý một cách cụ thể, theo trình tự nhất định, theo tổ chức, liên kết với các cơ quan của người quản lý để đạt mục tiêu và kết quả tốt nhất. Thực chất của quản lý đất đai là cả quá trình với các nội dung quản lý như lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, tổ chức thực thi sử dụng đất, thanh tra giám sát và điều chỉnh trong quá trình vận hành.
n 6 Công tác lưu trữ thông tin về đất đai, cập nhật theo giai đoạn các hoạt động quản lý sử dụng đất và tất cả những thông tin liên quan khác đến đất đai… đều là các nội dung của quản lý đất đai. Thực trạng hiện nay của Việt Nam là số hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất, nhất là chuyển khác nhóm đất ngày càng lớn. Vì vậy trong quản lý đất đai, cấp phép cho các dự án đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, sân gôn… từ đất sản xuất nông nghiệp sang các loại đất khác rất cần phải theo quy hoạch thống nhất của Nhà nước. Tầm quan trọng công tác quản lý sử dụng đất đối với các tổ chức kinh tế: Một khái niệm khác thuộc lĩnh vực quản lý: Đất đai là những vùng đất có vị trí, ranh giới, diện tích cụ thể trên mặt đất.
Các vùng đất này có thể ổn định theo thời gian, hoặc thay đổi theo chu kỳ là hoàn toàn chịu tác động của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội. Hoạt động quản lý sử dụng đất đai có hiệu quả phải được đánh giá theo số lượng, chất lượng. Như vậy việc đánh giá này phải được tiến hành thường xuyên và phải thật sự khách quan, nhất là trong đánh giá các hoạt động có tính nhạy cảm cao như sử dụng, quy hoạch, giao đất, thu hồi đất… Con người không thể dùng tư liệu khác để thay thế đất đai, cũng không thể hủy được đất đai. Cho nên con người cần phải sử dụng hợp lý và triệt để đất đai, không ngừng nâng cao hệ số cải tạo đất, từ đó làm cho với số lượng hữu hạn, đất đai có thể ngày càng cho nhiều của cải, thỏa mãn yêu cầu của toàn xã hội.
Trong sản xuất, con người kết hợp lao động sống và lao động quá khứ (vật hóa) vào đất. Ví dụ trong công nghiệp, không kể ngành công nghiệp khai khoáng, đất đai chỉ có chức năng làm các nền tảng, làm vị trí, trên đó hoàn thành cả quá trình sản xuất, làm cái địa bàn hoạt động mà thôi. Quá trình sản xuất và cải tạo ra thành quả lao động (sản phẩm) trong ngành công nghiệp chế biến không phụ thuộc vào độ phì nhiêu của ruộng đất và các thuộc tính sẵn có trong đất. Căn cứ pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.
Các văn bản của trung ương - Luật Đất đai 2013. - Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai 2013. n 7 - Nghị định 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất. - Nghị định 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất (có hiệu lực từ ngày 01/07/2014).
- Nghị định 46/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (có hiệu lực từ ngày 01/08/2014). - Thông tư 23/2014/TT-BTNMT về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất (có hiệu lực từ ngày 05/07/2014) - Thông tư 24/2014/TT-BTNMT về hồ sơ địa chính (có hiệu lực từ ngày 05/07/2014) - Thông tư 26/2014/TT-BTNMT về quy trình và định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành (có hiệu lực từ 15/07/2014). - Thông tư 30/2014/TT-BTNMT về Quy định quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất (có hiệu lực từ 17/07/2014). - Thông tư 34/2014/TT-BTNMT quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai.