Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 1.1 Khái niệm chung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư * Bồi thường - Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra. Đền bù trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao. - Bồi thường là trả lại giá trị tài sản gắn liền với đất hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. - Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một phần diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định. * Hỗ trợ - Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào. - Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là giúp thêm một khoản tài chính cho hểể nnààoo đđóó bbịị tthhiiệệtt hhạạii nnhhưư:: D chủ th Dii cchhuuyyểểnn cchhỗỗ ởở m mớớii,, ổổnn đđịịnnhh đđờờii ssốốnngg ssảảnn xxuuấấtt,, đđààoo ttạạoo cchhuuyyểểnn đđổổii nngghhềề nngghhiiệệpp vvàà ttạạoo vviiệệcc llààm Nhhàà nnưướớcc tthhuu hhồồii đđấấtt.kkhhii N * Tái định cư - Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn. Bằng một trong các hình thức sau: " giao nhà ở tái định cư; giao đất ở mới đề tự xây; trả bằng tiền để tự lo chỗ ở mới".2 Đặc điểm của quá trình giải phóng mặt bằng Giải phóng mặt bằng là một quá trình đa dạng và phức tạp.
Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một dự án , nó liên quan đến trực tiếp lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội. 6 - Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định. Đối với khu vực nội thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành ,. mật độ dân cư khác nhau , ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo những cách khác nhau.
Do đó, giải phóng mặt bằng cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt. - Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị đặc biệt, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội đối với mọi người dân. ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trinh độ sản xuất của người dân còn thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp chưa cao. Trước tình hình đó đã dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển là rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài Vấn đề bồi thường GPMB ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm , Nghị định 151/Ttg ngày 14/4/1959 đã đặt ra vấn đề trưng dụng đất; Thông tư 1972/Ttg ngày 11/01/1970 của Chính phủ quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối, hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mới.
Sau khi luật đât đai ra đời và bước vào thời kỳ đổi mới thì bồi thường GPMB đã được chú trọng xử lý đồng bộ hơn để phù hợp với giai đoạn mới. Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác cùng hàng loạt các văn bản pháp quy mới về những vấn đề có liên quan như giá đất, quy hoạch đã hình thành một hệ thống chính sách và tổ chức cho công tác bồi thường GPMB và cho đến nay sau nhiều lần bổ sung chúng ta đang áp dụng Nghị định 197/2004 /NĐ-CP ngày 3/12/2004 về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Trong giai đoạn hiện nay thì các chính sách của Nhà nước cần phải được thực hiện đồng bộ và minh bạch trong việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ cảu nhà đầu tư cũng như người chịu ảnh hưởng được thực hiện một cách thông suốt vì lợi ích phát triển chung. 7 Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở nước ta Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước.Trong những năm qua việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB ở nước ta đã đạt được những hiệu quả nhất định.
Việc thu đất để thực hiện các dự án đã góp phần quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay. Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 336,44 nghìn ha ( chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước). Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha. Trong đó Vĩnh Phúc chiếm 5.573 ha theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại 16 tỉnh trọng điểm 1.3 Căn cứ pháp lý trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Trên cơ sở Luật đất đai năm 2003 đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ X thông qua ngày 25/12/2001.
Để cụ thể hóa công tác GPMB. Các Nghị định, Thông tư đã hướng chi tiết và thể chế hóa trong công tác GPMB bao gồm: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP: Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư; Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; NĐ số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012: Về quản lý và sử dụng đất trồng lúa. 8 Đặc biệt do đặc thù của tỉnh Vĩnh phúc đã có những cơ chế chính sách riêng nhằm phù hợp đảm bảo các lợi ích trong quá trình thu hồi đất đã ban hành các Quyết định gồm: Quyết định số 18/2011/QĐ-UBND ngày 20/4/2011 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành quy định về thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Quyết định số 55/2012/ QĐ-UBND ngày 28/12/2012 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc V/v ban hành quy định về giá đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012; Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc chi trả đất dịch vụ cho các hộ có đất bị thu hồi; 1.4 Công tác bồi thường và GPMB đất trên thế giới 1.1 Chính sách GPMB của một số nước trong khu vực Châu Á * Tại Trung Quốc Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về chế độ sở hữu và các hình thức sử dụng đất đai. Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu: chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể.
Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm 2005 quy định: "Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường". Các nhà làm luật giải thích rằng trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng đối với đất thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất. Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia… thìNhà nước có chính sách bồi thường và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất .Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau: Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả.
Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có 9 đất bị thu hồi. Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 nhân dân tệ/ha. Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp tái định cư, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất. Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định.
Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất. Ở Trung Quốc, Nhà nước quan tâm tới nông dân, tạo điều kiện cho họ được hưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hóa khu thu hồi đất. Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp hoặc là thu hồi đất ở thuộc khu vực nông thôn để sử dụng vào mục đích khác thì người nông dân được lưu ý, quan tâm về lợi ích cũng như được bồi thường một cách hợp lý. Một vấn đề rất quan trọng đó là gắn công tác bồi thường với việc giải quyết các vấn đề xã hội.
Thông thường khi bị thu hồi đất, người nông dân khó tìm được việc làm thích hợp với khả năng của mình.