Chương 1) trong dó tại điều 9 có quy định “Trẻ em dược chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Tre em dưới sáu tuòi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tê (CSYT) của Nhà nước theo quy định của Hội đong bộ trưởng” [25]. Đe thực hiện dược Luật Bào vệ và chăm sóc sức khỏe trẻ em, một sô văn bàn pháp quy dã được ban hành nhàm hướng dần, điều chỉnh việc thực thi chính sách này. - “Nghị định số 95/CP ngày 27/8/1994 về việc thu một phần viện phí” trong đó tại điều 3 có quy định đổi tượng được miễn nộp một phần viện phí là trẻ em dưới 6 tuổi, người tàn tật.
người già yêu và một sô dôi tượng khác [17]. - “Thông tư 14/TTLB ngày 30/9/1995 của liên bộ Tài Chính - Bộ Y tế - Bộ Lao động thương binh xã hội - Ban vật giá chính phú” có quy định hàng năm ngành Y tế bổ trí miền giảm cho các dối tượng chính sách trong đó có trẻ dưới 6 tuổi [10]. - “Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em” được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thử 5 thông qua ngày 16/5/2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005 tại khoản 2, điều 15 chương II quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. Trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền ở các cơ sở y tể công lập” và khoản 4, điều 27 chương 3 quy định: “Nhà nước có chính sách phát triển sự nghiệp y tế, đa dạng các loại hình dịch vụ khám bệnh và chữa bệnh, có chính sách miễn giảm phí khám bệnh, chừa bệnh và phục hồi chức năng cho trẻ em, đảm bảo kinh phí khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi” [26].
- “Công văn số 306/YT-KHTC về việc khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi” do Bộ Y tế ban hành ngày 14/01/2005 gửi Ưỷ ban nhân dân các tỉnh/thành pho. Trong đó có đề nghị UBND các tỉnh, thành phố bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách năm 2005 của địa phương để thực hiện khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi với mức tối thiểu 75.000 đồng/trẻ/năm như hướng 8 dẫn cùa Bộ Tài chính tại Thông tư sổ 111/2004/TT-BTC ngày 19/11/2004 về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách năm 2005 [11]. - “Nghị quyết 46/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng” về “Đẩy mạnh công tác bảo vệ. chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới" ban hành ngày 23/2/2005 cũng khăng dinh: “Nhà nước dảm bảo cung cấp kinh phi khám chữa bệnh cho người có công với cách mạng, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội" [3].
- “Nghị định sổ 36/2005/ND - CP ngày 17/3/2005 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" do Chính phủ ban hành trong đó tại điều 18 có nhũng nội dung hướng dẫn về việc: Cap và sử dụng Thẻ khám bệnh, chữa bệnh: Thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh; Lập dự toán ngân sách khám bệnh, chữa bệnh; Quản lý, sử dụng và thanh toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh; Quyết toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trê em dưới 6 tuổi [16]. - “Thông tư Hướng dần thực hiện khám bệnh, chữa bệnh và quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi tại các cơ sở y tế công lập” được Bộ Y tế ban hành ngày 10/5/2005 nhàm cụ thể hoá các quy định về tuyến điều trị thuộc hệ thống Y tế công; Thủ tục Khám chữa bệnh cho trẻ em tại các CSYT công; Quy định trách nhiệm của cha/mẹ hoặc người giám hộ trẻ em và của các CSYT; Quy định cụ thể về sử dụng và quyết toán kinh phí KCB [10]. - “Thông tư Hướng dẫn quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập” do Bộ Tài Chính ban hành ngày 6/4/2005 trong đó có những hướng dẫn về việc Lập và phân bổ dự toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi; Quản lý, sử dụng kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi; Hạch toán và quyết toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuồi [4]. - Thông tư liên tịch số 15/2008/TTLT-BTC-BYT do Bộ Tài chính - Bộ Y tế ban hành ngày 5/02/2008 để thay thế cho thông tư 26/2005/TT-BTC của Bộ Tài Chính và thông tư số 14/2005/TT-BYT cúa Bộ Y tế.
Thông tư này có bo sung các một số 9 nội dung mà cơ sở KCB được thanh toán: chi phí vận chuyển trẻ em trong trường hợp cấp cứu hoặc chuyển tuyến; Mua sắm một số dụng cụ y tế thiết yếu; Hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ đang điều trị nội trú thuộc các đối tượng cơ nhỡ, trẻ em thuộc các hộ nghèo theo chuẩn nghèo do Nhà nước quy định [10]. Trên đây là một sô văn ban pháp lý dã dược ban hành nhăm tạo dièu kiện cho ngành Y tế triển khai việc khám chữa bệnh miễn phi cho trẻ em dưới 6 tuổi tại các CSYT công. Nhìn chung, các văn bản pháp quy của Nhà nước và các Bộ/Ngành có liên quan cùng như cua các dịa phương cho đến nay dã khá dày đù cho việc triên khai công tác khám chữa bệnh miền phí cho trẻ em dưới 6 tuổi. Việc triển khai KCBMP tại địa phương, cơsởy tế Sau khi Luật Chăm sóc và giáo dục trẻ em có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005 và đến ngày 17/3/2005 Chính phù ban hành Nghị định 36/2005/NĐ-CP.
sau dó vào tháng 4. tháng 6 năm 2005 là các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ Y tế, ủy ban dàn số gia dinh và trẻ em thi tất cà các dịa phương đã tích cực, chủ dộng triển khai thục hiện chính sách KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi với các biện pháp cụ thể, phù hợp với tinh hình thực tế [26], [16], Đen tháng 8/2005 có 41 tỉnh, thành phố triển khai thực hiện chính sách K.CBMP cho trẻ em dưới 6 tuổi [9]. Qua tổng hợp báo cáo các địa phương bắt đầu triển khai chính sách vào các thời điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào công tác tổ chức chỉ đạo, triển khai ở các địa phương. Tại Chương Mỹ - Hà Tây, công tác KCBMP cho trẻ em dưới 6 tuổi được bắt đầu triển khai vào tháng 8 năm 2005 [21].
Đen nay 100% các CSYT công lập đã triển khai thực hiện KCBMP cho trẻ em dưới 6 tuổi. Năm 2006, tổng số lần KCB tại các CSYT công lập trong toàn quốc là 194.305 lượt trong đó số lần KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi là 14.014 lượt, chiếm 7,64%, tăng 2 % so với năm 2005 [8], Tỷ lệ trẻ được miễn phí hoàn toàn khi đi KCB tại YTCS cũng khác nhau ở các địa phương khác nhau. Tại Thanh Trì - Hà Nội, 100% trẻ dưới 6 tuổi đến KCB tại YTCS đều được miễn phí theo quy định nhưng ở Chương Mỹ - Hà Tây, tỷ lệ đạt 90% [21], [27], 10 - về việc phát thẻ: Cho đến nay việc cấp thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi đã được triển khai đến tất cả các địa phương trong cả nước, ví dụ như tại Nghệ An ngay trong năm 2005 đã tiến hành cẩp thẻ được 251.321 trẻ đạt tỷ lệ 90%. Các trường hợp trẻ em chưa có thẻ KCBMP chỉ cần giấy chứng sinh, giấy khai sinh làm căn cử cũng được K.CBMP [9] - Bố trí phân bổ, triển khai nguồn lực thực hiện: kinh phí KCBMP cho trẻ em dưới 6 tuổi đã được Bộ Tài Chính cân đối và giao cho các tỉnh, thành phố đế bố trí cho các cơ sờ trực thuộc của dịa phương thực hiện KCB không phai trá tiên dôi vó'i trẻ em dưới 6 tuổi.
Ngân sách được tính theo số trẻ em có hộ khau thường trú. Dự toán ngân sách chi KCB trẻ em được lập, cân đổi và giao cho các CSYT. Mặc dù kinh phí phải phân bo cho rất nhiều đầu moi: TYT, Phòng khám đa khoa, bệnh viện đa khoa huyện, bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tinh, bệnh viện đa khoa, chuyên khoa Trung ương nhưng các dịa phương. CSYT đã triển khai thực hiện theo quy định về tài chính một cách khá chính xác và nhanh chóng.
Ví dụ như tại Thái Nguyên dược cấp năm 2005 là 8.000 đồng; định mức phân đổi với tuyến xã là 10.000/1 trẻ/năm, đối với bệnh viện huyện là 3.000 đồng/giường bệnh/năm, bệnh viện tuyến tỉnh 4.000 đồng/giường bệnh/năm.[9] - Triển khai KCBMP cho trẻ em dưới 6 tuổi: sau khi trien khai chính sách KCBMP tại một số bệnh viện chuyên khoa Nhi ở Nghệ An, Đồng Nai, Hải Phòng.số lượng trẻ dưới 6 tuổi đến KCB đều tăng nhanh gây quá tải cho các bệnh viện. Ví dụ như tại viện Bỏng Lê Hữu Trác số lượng bệnh nhân dưới 6 tuổi khám và điều trị chiếm 53%; bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội chiếm 59,2% tổng số bệnh nhân đến khám và điều trị .[9], Qua thời gian triển khai chính sách KCBMP cho đến nay có thể thẩy số lượng trẻ em dưới 6 tuối đến K.CB tại các CSYT tăng cao, quyền lợi của trẻ em dưới 6 tuổi về cơ bản đã được thực hiện đầy đủ hơn trước và theo quy đúng quy định của các Thông tư hướng dẫn. Các bệnh viện Nhi và khoa Nhi thuộc các bệnh viện đa khoa đã được củng cố tăng cường về nhân lực, trang thiết bị đáp ứng nhu cầu KCB ngày càng tăng của trẻ em dưới 6 tuổi. Khả năng cung cấp dịch vụ KCBMP cho trẻ em dưới 6 tuổi tại y tế cơ sở 3.
Khái niệm J tế cơ sở Hệ thống y tế Việt Nam được chia thành 3 tuyến: tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến y tể cơ sở (YTCS). Mạng lưới YTCS (gồm y tế quận, huyện, thị xã thuộc tinh: xã, phường: thôn, ban) là tuyến y tẻ trực tiẻp gàn dân nhất, bao dám cho mọi người dân dược CSSK cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công bang xã hội. xoá đói giảm nghèo, xây đựng nep song văn hoá. trật tự an toàn xã hội.
tạo niềm tin cúa nhân dàn với chê độ Xà hội chú nghĩa [2]. Các CSYT nằm trong mạng lưới YTCS thực hiện chức năng KCB ban đầu bao gồm các bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị xã thuộc tỉnh; các phòng khám đa khoa khu vực; các TYT xã/phường/thị trấn. Khá năng cung cấp (lịch vụ KCBMP cho trẻ em (lưới 6 tuổi tụi TYT Hiện nay. theo thống kê năm 2007 tại Việt Nam có khoảng 72.