Chương 1: TỔNG QUAN 1. Sinh lý bạch cầu hạt trung tính 1. Sự tạo thành bạch cầu hạt trung tính Tế bào gốc toàn năng (multipotential stem cell) có khả năng sinh ra tế bào gốc của mọi loại huyết bào khác [4]. Các tế bào này sinh ra hai tế bào gốc dưới nó gọi là các đơn vị tạo dòng (colony - forming unit: CFU).
CFU gồm hai loại tế bào gốc, mỗi loại là tiền bối của một số dòng huyết bào đơn năng: CFU-GEMM: là tế bào gốc để sinh ra gốc của các dòng bạch cầu hạt (G), hồng cầu (E); tiểu cầu (Meg) và mono bào (M). CFU-L: là tế bào gốc của các dòng lympho bào (B, T, NK). Khi biệt hóa đến tiền tủy bào, tủy bào, các hạt ở bào tương bắt đầu xuất hiện. Do đó, gọi là dòng bạch cầu hạt.
Các hạt này có vai trò quan trọng trong hoạt động chức năng của mỗi loại bạch cầu. Trong đó, từ tiền tủy bào trung tính sẽ biệt hóa thành tủy bào trung tính và tạo thành tế bào BCHTT ở máu ngoại vi có chức năng hoàn chỉnh.1: Sự tạo thành bạch cầu trung tính * Nguồn: Theo Abul K. Abbas và CS [10] 1. Cấu tạo bạch cầu hạt trung tính Để trở thành các tế bào miễn dịch bẩm sinh có hiệu lực chống lại vi khuẩn gây bệnh, BCHTT chứa đầy các hạt được làm giàu có khả năng gây độc tế bào với nhiều phân tử kháng khuẩn có sức mạnh khác nhau.
Chúng bao gồm 3 luan an 4 4 loại hạt nằm trong bào tương: hạt sơ cấp (azurophilic), hạt thứ cấp (specific), hạt thứ 3 (gelatinase) và túi tiết (seretory vesicles) (Hình 2). Các hạt này hoạt động theo nhiều cách khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể [63], [141].2: Các hạt của bạch cầu trung tính * Nguồn: Theo Roger D. Elastase là một protein serin quan trọng giúp kiểm soát sự xâm nhập của vi khuẩn và nấm gây bệnh. Elastase được dự trữ trong các hạt sơ cấp và được giải phóng vào vùng thực bào khi vi khuẩn xâm nhập.
Proteinase 3 lại tiêu diệt vi khuẩn và nấm thông qua quá trình sinh tổng hợp protein cũng như sự chuyển hoá oxy. Ngoài khả năng kháng khuẩn trực tiếp, các protein serin còn có thể liên kết với các thụ thể trên bề mặt tế bào, giúp điều chỉnh hoạt tính của các cytokine và chymokine. BCHTT có khả năng tiêu diệt các tác nhân gây bệnh bao gồm vi khuẩn và nấm là nhờ các receptor (thụ thể) trên bề mặt của nó. Trên bề mặt của các BCHTT có rất nhiều các receptor với các vai trò khác nhau: Một số thụ thể có thể nhận biết về cấu trúc của vi sinh vật, một số khác có khả năng kích hoạt phản ứng miễn dịch thích ứng.
Ngoài ra, còn có những thụ thể có khả năng 4 luan an 5 nhận ra môi trường viêm [94]. Có thể kể đến một số thụ thể như sau: G protein coupled receptor (GPCR); Fc-Receptor, Neutrophil adhesion receptors (thụ thể bám dính), thụ thể cytokine, Innate immune receptors (thụ thể miễn dịch bẩm sinh). Vai trò của bạch cầu hạt trung tính trong hệ thống miễn dịch 1. Vai trò của bạch cầu hạt trung tính trong quá trình viêm và nhiễm trùng 1.
Bạch cầu hạt trung tính trong các bệnh nhiễm trùng Các bạch cầu hạt trung tính và bạch cầu hạt lympho là những tế bào miễn dịch bẩm sinh cần thiết đóng vai trò chủ đạo trong việc chống lại vi khuẩn và nấm. Do đó, trong một số bệnh, việc thiếu hụt BCHTT gây nên các tình trạng nhiễm vi khuẩn và nhiễm nấm tái diễn [78]. BCHTT có khả năng bảo vệ cơ thể trước sự xâm nhập của cả vi khuẩn Gram âm và Gram dương như: S.coli, Shigella flexneri, Salmonella typhimurium, Mycobacter, Chlamydia, các loại virus: Influenza, Dengue, Respiratory syncytial virus, các loại nấm: Candida Albicans, Aspergillus fumigatus và cả các loại ký sinh trùng: Plasmodium falciparum, Toxoplasma [54], [165]. Quá trình thực bào: Khi vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể, BCHTT được huy động đến vị trí nhiễm trùng, kích hoạt cũng như thực hiện các hoạt động khác nhau để tiêu diệt các tác nhân này.
Một trong các hoạt động đó là BCHTT sẽ gắn vào vi sinh vật gây bệnh sau đó sẽ tiêu hoá nó. Nhờ các receptor có trên bề mặt, BCHTT trực tiếp nhận ra vi khuẩn thông qua bề mặt của chúng hoặc qua các hạt chất tiết tự do được các vi khuẩn sản xuất ra như peptidoglycan, lipoprotein, lipoteichoic acid, lipopolysaccharide.Quá trình nhận dạng, gắn kết với vi khuẩn của BCHTT được tăng cường bởi các bổ thể và kháng thể có trong huyết thanh cũng như các chất tham gia vào quá trình opsonin hoá vi sinh vật. Nhờ đó, phức hợp bổ thể - vi sinh vật tiến đến BCHTT [31], [94], [142]. Vi sinh vật gây bệnh được đưa vào trong vùng thực bào 5 luan an 6 (phagosome) của BCHTT.
Tại đây, các hạt azurophilic, các hạt đặc biệt, các chất oxy phản ứng (Reactive oxygen species - ROS) được giải phóng vào vùng thực bào để tiêu diệt vi sinh vật. Quá trình này được tóm tắt bằng hình vẽ sau: Hình 1.3: Quá trình bạch cầu hạt trung tính tiêu diệt vi sinh vật Chú thích: MPO - myeloperoxidase, HOCl - axit hypochlorous, e - electron * Nguồn: Theo Sctott D. Vai trò của bạch cầu hạt trung tính trong quá trình viêm Trong quá trình viêm, BCHTT có khả năng khoanh vùng sự nhiễm trùng. Đây là một điểm quan trọng trong quá trình viêm cấp tính.
Khi có tổn thương viêm, BCHTT di chuyển qua mô để đến tổ chức viêm [148]. Sự di chuyển của BCHTT bị ảnh hưởng bởi các chất hoá học được tạo ra bởi chính các vật chủ trong quá trình viêm hoặc bởi các tác nhân gây bệnh. Một trong các chất trung gian hoá học quan trọng nhất đối với BCHTT là interleukin 8 (IL8) [81]. Ngoài ra, các BCHTT cũng được huy động tới các tổ chức viêm nhờ hoạt động của các leukotrienes và prostaglandin ngoại sinh được sinh ra từ các vị trí nhiễm trùng.
Nhiều sản phẩm khác của vi khuẩn như fMLP, peptidoglycan, các phenol hòa tan là các chất hóa học đóng góp trực tiếp vào việc huy động bạch cầu hạt trung tính [142]. 6 luan an 7 Các BCHTT có hơn 30 thụ thể khác nhau bao gồm: thụ thể G protein, thụ thể Fc, thụ thể bám dính, thụ thể cytokine, thụ thể nhận dạng mẫu. Các thụ thể này nhận ra được các trung gian tiền viêm từ đó đóng góp vào quá trình di chuyển của BCHTT tới các mô viêm [148]. Không chỉ có vai trò quan trọng trong viêm cấp tính, nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh BCHTT có vai trò to lớn trong các bệnh viêm mạn tính như viêm nha chu, hen phế quản, COPD (obtructive pulmonary disease) [62], [79], [134], [147], [159].
Những nghiên cứu khác cũng chứng minh vai trò của bạch cầu hạt trung tính trong các bệnh viêm tự miễn như viêm khớp tự miễn hay đái tháo đường tuyp 1 và bệnh Gout [83], [93], [124]. Bẫy ngoại bào bạch cầu hạt trung tính Bẫy ngoại bào trung tính (Neutrophil extracellular trap - NET) được tạo ra là kết quả của sự giải phóng vào ngoại bào các thành phần trong nhân BCHTT và có liên quan đến nồng độ glucose trong máu. NETs bao gồm các chất nhiễm sắc và các hạt (serine protease) cũng như các protein bào tương [140], [164]. Cho đến hiện nay, có 2 hình thức của NETs được giải phóng vào khoảng không ngoại bào từ các BCHTT đã được mô tả: Thứ nhất, sự giải phóng của NETs từ các BCHTT chết.
Do đó, liên quan đến cơ chế gây chết tế bào. Thứ hai, sự giải phóng của các chất chromatin và các serin protease từ các bạch cầu hạt trung tính còn nguyên vẹn. Cơ chế đầu tiên của sự hình thành NETs từ bạch cầu hạt trung tính xảy ra trong vòng 2 - 3 giờ sau khi tiếp xúc với PMA (phorbol-12-myristate-13-acetate), IL-8, lipopoly saccharide (LPS) và các sản phẩm của vi khuẩn khác [21], [95], [113]. Tuy nhiên, cho đến nay, cơ chế hình thành NET cũng chưa được giải thích đầy đủ.
Các nghiên cứu đã chứng minh rằng BCHTT khi có sự kích hoạt của các lipopolysaccharid, vi khuẩn và nấm sẽ trải qua một quá trình gọi là NETosis. Sau đó trải qua một loạt các chu trình khác để tạo ra NET [93]. 7 luan an 8 Cơ chế hình thành NET được tóm tắt trong sơ đồ dưới đây: Hình 1.4: Sự hình thành NET từ bạch cầu hạt trung tính * Nguồn: Theo Kely Campos Navegantes và CS [93] NET có thể dễ dàng làm giảm độc lực của vi khuẩn và tiêu diệt vi khuẩn bởi vì nó có chứa nhiều serine protease [63]. NET đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn, tiêu diệt nhiều loại vi sinh vật kể cả Gram âm và Gram dương bao gồm: S.aureus, Shigella Flexeneri, S.
pyogens, Bacillus anthracis, Mycobacterium tuberculosis, nấm Candida albicans và kí sinh trùng như Leishmania amazonensis [24], [95]. Ngoài ra, NET còn có thể tham gia vào các cơ chế miễn dịch trong một số bệnh lý miễn dịch như: viêm khớp tự miễn, đái tháo đường tuyp 1, bệnh về tiểu cầu hay một số bệnh liên quan đến tim mạch [83], [128], [141]. Ngoài chức năng chống lại vi khuẩn, NET cũng có thể gây hại cho vật chủ nếu sự tạo thành NET không được kiểm soát tốt. Sự hình thành NET quá nhiều liên quan đến các bệnh lý trung gian khác nhau như viêm mạch, Lupus ban đỏ hệ thống có tổn thương thận.
NET cũng gây kích thích tiểu cầu dẫn đến các huyết khối [64], [141], [157]. Bạch cầu hạt trung tính là chất cảm ứng của miễn dịch thích ứng 1. Điều hoà chức năng của tế bào T và tế bào B - Đối với các tế bào lympho T: + BCHTT có khả năng mang kháng nguyên tới các tế bào lympho T: Trong nghiên cứu của tác giả Peter C. Grayson và CS về bệnh viêm khớp dạng thấp đã thấy rằng: BCHTT cũng có thể mang kháng nguyên đến các hạch bạch huyết bằng cách di chuyển qua các tế bào bạch huyết, nơi chúng trực tiếp trình diện kháng nguyên với các tế bào lympho T hoặc phân phối nó tới các tế bào tua gai [124].
Ngoài ra, chúng cũng có thể mang các kháng nguyên virus từ da trực tiếp đến tủy xương để thúc đẩy sự hình thành tế bào lympho T nhớ [45]. + BCHTT cũng có thể có tác dụng ức chế miễn dịch: Chúng có thể ức chế sự gia tăng của các tế bào lympho T sản xuất IFN-γ thông qua một cơ chế phụ thuộc NO. Việc giải phóng arginase bằng các BCHTT đã được hoạt hoá hoặc các BCHTT đã chết sẽ làm suy yếu L-arginine ngoại bào. Do đó ức chế sự tăng sinh tế bào lympho T.