PHẦN MỞ ĐẦU Cận thị học đƣờng là một loại tật khúc xạ của mắt, thƣờng xuất hiện và tiến triển ở lứa tuổi học sinh. Cận thị gây tác hại trƣớc mắt là làm giảm thị lực nhìn xa, giảm khả năng khám phá thế giới xung quanh và ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng học tập, sức khỏe và thẩm mỹ của con ngƣời, nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể dẫn đến thoái hóa võng mạc, nặng hơn hơn có thể bong võng mạc dẫn đến mù. Hiện nay, cận thị học đƣờng chiếm tỷ lệ cao trong lứa tuổi học sinh và trở thành vấn đề sức khỏe của cộng đồng nhiều quốc gia trên thế giới. Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, ƣớc tính có đến 1/6 tỷ ngƣời trên toàn cầu mắc cận thị [6].
Tại Việt Nam, cận thị học đƣờng chiếm tỷ lệ khá cao và tăng nhanh nhất là khu vực đô thị. Theo Trần Thị Hải Yến và cộng sự năm 2003 khảo sát 5112 học sinh đầu cấp ở 29 trƣờng trên 4 quận tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) tỷ lệ mắc tật khúc xạ là 25,3%; trong đó cận thị chiếm tỷ lệ 17,2% [23]. Tại Hà Nội năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng tiến hành nghiên cứu tỷ lệ cận thị ở học sinh phổ thông là 29,8% [1]. Là một bệnh khó điều trị đƣợc nhƣng có thể phòng ngừa đƣợc, tỷ lệ cận thị học đƣờng cao cho thấy nhận thức của cộng đồng về các biện pháp can thiệp, dự phòng nhằm giảm tỷ lệ cận thị chƣa đƣợc quan tâm.
Mă ̣c dù đã có những nghiên cứu về vấn đề c ận thị học đƣờng và các yế u tố liên quan , gần đây nhất Nguyễn Văn Lơ cùng cộng sự đã mô tả thực trạng vệ sinh học đƣờng và bệnh, tật học đƣờng tại các trƣờng tiểu học của huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (2012) với tỷ lệ tật cận thị là 7,08% [14]. Nhƣng hiê ̣n ta ̣i chƣa có nh ững nghiên cƣ́u làm rõ thƣ̣c tra ̣ng và đ ặc điểm các yếu tố liên quan tật cận thị ở các cấp học trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Kết quả công trình nghiên cứu sẽ làm cơ sở xây dựng các giải pháp thiết thực nhằm hạn chế gánh nặng bệnh tật và góp phần chăm sóc sức khỏe học đƣờng tại địa phƣơng. Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng cận thị học đƣờng và một luan an 2 số yếu tố có liên quan đến cận thị ở học sinh trên địa bàn thành phố Trà Vinh với ba mục tiêu sau: - Mục tiêu 1: Xác định tỷ lệ cận thị ở học sinh tại Thành phố Trà Vinh năm 2014.
- Mục tiêu 2: Mô tả một số yếu tố liên quan tật cận thị ở đối tƣợng học sinh tại thành phố Trà Vinh năm 2014. - Mục tiêu 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm dự phòng và hạn chế tật cận thị ở học sinh trên địa bàn thành phố Trà Vinh Nội dung triển khai nghiên cứu: Xác định thực trạng cận thị học đƣờng tại Thành phố Trà Vinh bao gồm: - Tỷ lệ cận thị chung - Tỷ lệ cận thị theo giới, dân tộc, cấp học - Tỷ lệ học sinh có đeo kính cận trong các trƣờng hợp cận thị Mô tả một số yếu tố liên quan đến tật cận thị ở đối tƣợng học sinh tại Thành phố Trà Vinh bao gồm: yếu tố vệ sinh trƣờng học; đặc điểm về kinh tế, xã hội ở đối tƣợng; bệnh tật gia đình (có cha/mẹ và anh/chị/em ruột mắc tật cận thị); các thói quen sinh hoạt, học tập và giải trí có liên quan đến vấn đề sức khỏe quan tâm ở học sinh. Một số biện pháp dự phòng tật cận thị ở học sinh có thể triển khai tại địa phƣơng, trƣờng học, cũng nhƣ những khuyến cáo rộng rãi cho các học sinh. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiến hành khảo sát trên kích thƣớc cở mẫu còn hạn chế do điền kiện về nguồn lực và thời gian của chủ nhiệm đề tài Thiết kế nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 1.431 học sinh các cấp tại thành phố Trà Vinh nhằm mô tả thực trạng tật cận thị và các yếu tố liên quan trong năm học 2014 – 2015.
luan an 3 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu về vấn đề nghiên cứu. Khái niệm Mắt chính thị là mắt bình thƣờng, khi mắt chính thị ở trạng thái không điều tiết thì các tia sáng phản chiếu từ các vật ở xa sẽ đƣợc hội tụ trên võng mạc [3], [22]. Mắt chính thị Các tia sáng song song đi vào mắt được hội tụ trên võng mạc khi mắt ở trạng thái nghỉ không điều tiết Xét trên phƣơng diện quang học có thể xem con mắt nhƣ một máy chụp ảnh trong đó vật kính là hệ thống: giác mạc - thuỷ tinh thể, màng chắn là mống mắt và phim là võng mạc.
Để nhìn rõ một vật đòi hỏi hình ảnh của vật phải rơi đúng trên võng mạc, đây là sự hài hòa giữa các yếu tố quang học của mắt nhƣ giác mạc, thể thuỷ tinh, các chất dịch trong mắt, trục nhãn cầu… Trong quá trình hình thành và phát triển của những yếu tố quang học này nếu có sự cố, trục trặc thì sẽ dẫn đến những khiếm khuyết về khúc xạ mà ta thƣờng gọi là tật khúc xạ [15]. Tật khúc xạ đƣợc chia ra làm 2 loại + Tật khúc xạ hình cầu (cận thị, viễn thị): Cận thị là tình trạng hình ảnh của vật đƣợc hội tụ phía trƣớc võng mạc, ngƣời mắc cận thị muốn nhìn rõ vật phải đƣa vật lại gần hay gọi theo cách khác là mắt nhìn gần. Viễn thị là tình trạng hình ảnh của vật đƣợc hội tụ phía sau võng mạc, ngƣời mắc viễn thị muốn nhìn rõ vật phải đƣa vật ra xa hay gọi theo cách khác là mắt nhìn xa [4]. luan an 4 + Tật khúc xạ không phải hình cầu (loạn thị): Loạn thị là tình trạng hệ quang học của mắt có công suất khúc xạ không đều trên các kinh tuyến khác nhau.
Loạn thị có thể gặp do giác mạc, thể thuỷ tinh, võng mạc, chấn thƣơng… Bình thƣờng mặt giác mạc ở trung tâm có hình cầu giống nhƣ bề mặt một quả bóng. Nếu nó không có hình cầu thì mắt sẽ bị loạn thị, làm cho hình ảnh sẽ hội tụ ở hai điểm khác nhau, loạn thị có thể điều chỉnh đƣợc bằng kính phức hợp không phải hình cầu (kính trụ) [4]. Cận thị là mắt có công suất quang học quá cao so với độ dài trục nhãn cầu. Ở mắt cận thị không điều tiết, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa đƣợc hội tụ ở phía trƣớc võng mạc.
- Phân loại cận thị, cận thị đƣợc chia làm 2 loại + Cận thị học đƣờng là loại cận thị mắc phải trong lứa tuổi đi học, độ cận thị ≤- 6D, là cận thị do sự mất cân xứng giữa chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt làm cho ảnh của vật đƣợc hội tụ ở phía trƣớc của võng mạc, nhƣng chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt chỉ tăng ít và không kèm theo những tổn thƣơng bệnh lý khác [4], [22]. Ở mắt cận thị học đƣờng, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa sau khi bị khuất triết sẽ đƣợc hội tụ ở phía trƣớc võng mạc bất kể mắt có điều tiết hay không. Trên thực tế, sự điều tiết ở mắt cận thị học đƣờng sẽ làm cho mắt bị mờ hơn. Cận thị học đƣờng thƣờng gặp do trục trƣớc sau nhãn cầu quá dài hoặc các thành phần khúc xạ quá mạnh [4], [3], [22].
Mắt cận thị học đƣờng Các tia sáng song song đi vào mắt được hội tụ trước võng mạc khi mắt ở trạng thái nghỉ không điều tiết luan an 5 + Cận thị bệnh lý là cận thị mà chiều dài trục nhãn cầu và độ hội tụ của mắt vƣợt quá giới hạn bình thƣờng. Có thể gặp các loại cận thị bệnh lý nhƣ cận thị có kèm theo những thoái hoá ở đĩa thị và hắc võng mạc. Cận thị bệnh lý do biến dạng giác mạc và thể thuỷ tinh nhƣ giác mạc hình chóp, thể thuỷ tinh hình cầu trong các hội chứng bẩm sinh [2], [22]. Thị lực là khả năng của mắt phân biệt rõ các chi tiết của vật.
Hay nói cách khác, thị lực là khả năng của mắt phân biệt đƣợc hai điểm ở gần nhau [22]. - Phân loại mức độ thị lực của tổ chức Y tế Thế giới [10], [22] + Thị lực > 7/10 : Bình thƣờng + Thị lực > 3/10 - 7/10 : Giảm + Thị lực ĐNT 3m - 3/10: Giảm nhiều + Thị lực < ĐNT 3m : Mù 1. Nguyên nhân bệnh sinh Nguyên nhân gây nên cận thị thƣờng do trục trƣớc sau của nhãn cầu dài hơn bình thƣờng, công suất hội tụ của thể thuỷ tinh và giác mạc tăng hơn bình thƣờng [3], [22]. Độ dài của trục nhãn cầu tăng lên thƣờng do sự mất cân xứng giữa áp lực nội nhãn với độ cứng và tính đàn hồi của củng mạc.
Áp lực nội nhãn gia tăng thƣờng do nguyên nhân là sự tăng tiết thuỷ dịch. Nguyên nhân quan trọng dẫn đến tăng tiết thuỷ dịch thƣờng do mắt điều tiết quá mức trong điều kiện mắt phải nhìn gần nhiều hoặc do sự mất cân bằng và rối loạn của thần kinh thực vật và vận mạch [1], [40]. Điều tiết quá mức thƣờng do hiện tƣợng co quắp cơ thể mi gây ra. Co quắp cơ thể mi thƣờng có những triệu chứng nhƣ đau đầu, nhức mắt, nhìn xa mờ từng lúc và cận điểm quá gần.
Co quắp cơ thể mi thƣờng xảy ra sau khi mắt phải nhìn gần kéo dài và làm nặng thêm cận thị học đƣờng [20]. Độ cứng và tính đàn hồi của củng mạc cũng là nguyên nhân gây gia tăng độ dài trục nhãn cầu, làm cho mắt trở thành cận thị. Khi thiếu các chất dinh dƣỡng, đặc biệt luan an 6 là thiếu vitamin A, vitamin E, vitamin C cũng làm cho độ cứng của củng mạc suy giảm nên dễ mắc cận thị [3]. Hiện nay, các tác giả đều thống nhất có các nguyên nhân phát sinh bệnh chính là di truyền và yếu tố môi trƣờng, lối sống.
Yếu tố di truyền. Tình trạng khúc xạ phụ thuộc vào sự phối hợp các lực khúc xạ của giác mạc, thể thủy tinh và độ dài trục, các chỉ số khúc xạ của thủy dịch, dịch kính và tuổi của ngƣời đó. Thông thƣờng các ảnh hƣởng của thủy dịch và dịch kính là hằng định, với mỗi loại có chỉ số khúc xạ là 1,33620. Vì vậy, các phần khúc xạ có khả năng bị thay đổi chính là giác mạc, thể thủy tinh và độ dài trục.