LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Nâng cao dân trí là một phần quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và được coi là 1 trong 3 lĩnh vực đột phá trong Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội trong giai đoạn 2011 – 2020. Đầu tư cho Giáo dục mầm non là một bước cơbản hướng tới xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lúc Việt Nam nỗ lực để trở thành nền kinh tế thị trường công nghiệp hóa hiện đại. Ông Xiaoqing Yu, Giám đốc Ban phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng Thế giới tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho rằng: “Rất nhiều bằng chứng trên thế giới cho thấy nhiều kỹ năng tư duy, kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng xã hội và kỹ năng ứng xử được hình thành trong những năm đầu đời của trẻ. Nếu bạn muốn có một nền giáo dục công bằng, nếu bạn muốn mọi người đều tận dụng lợi thế từ nền kinh tế phát triển, nếu bạn muốn chống lại đói nghèo – phát triển Giáo dục mầm non là một trong những công cụ hứa hẹn nhất." Theo dữ liệu cung cấp năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khoảng một nửa số trẻ em Việt Nam 5 tuổi có nguy cơ thiếu hụt hoặc thiếu hụt ít nhất 1 trong 5 kỹ năng cần thiết để bắt đầu đi học.
Các khảo sát độ tuổi mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức Hỗ trợ phát triển giáo dục của Nga, Học viện Offord ở Canada và Ngân hàng Thế giới đồng thực hiện chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ em chưa sẵn sàng đến trường cao nhất ở nhóm trẻ dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mầm non sử dụng nguồn vốn vay Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ World Bank được thiết kế để giải quyết vần đề này bằng cách nâng cao khả năng sẵn sàng cho trẻ đi học tiểu học, thông qua việc hỗ trợ các cấu phần đã được lựa chọn trong chương trình Quốc gia của Việt Nam “Phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi trong giai đoạn 2 2010 – 2020” (Nghị định 239). Dự án hỗ trợ các nỗ lực mở rộng ghi danh bán trú ở cấp mầm non, nâng cao năng lực đảm bảo chất lượng cho trường mầm non và tăng khả năng chuyên môn cho giáo viên và hiệu trưởng. Dự án đã kết thúc vào 6/2017, tuy nhiên với những kết quả mà dự án mang lại cho giáo dục mầm non nước nhà, Chính Phủ và Ngân hàng Thế Giới đã có kế hoạch để dự án tiếp tục hoạt động giai đoạn 2 trong 5 năm tới.
Hiện nay, dự án đang thực hiện các thủ tục đóng và hoàn thiện các báo cáo liên quan bao gồm cả báo cáo đánh giá cuối kỳ. Tuy nhiên, báo cáo đánh giá giữa kỳ và đề cương báo cáo đánh giá cuối kỳ đang thực hiện đều chỉ dừng lại ở việc nêu ra những kết quả mà dự án đạt được, so sánh kết quả đã đạt được với chỉ tiêu đặt ra ban đầu. Trong bối cảnh dự án sẽ còn tiếp tục thực hiện pha 2 thì việc đánh giá dự án theo cách trên không thể mang lại cho ban quản lý trung ương cách nhìn tổng quan dưới nhiều góc độ nhằm phát huy hơn nữa những thuận lợi, rút ra bài học kinh nghiệm từ những khó khăn vướng mắc để có thể thực hiện tốt hơn trong giai đoạn tới. Chính vì vậy, luận văn này hướng tới đánh giá cuối kỳ dự án một cách hệ thống trên các tiêu chí được nhiều nước trên thế giới sử dụng nhằm có cái nhìn sát thực hơn đối với quá trình thực hiện hoạt động và kết quả đạt được của dự án trên nhiều khía cạnh.
Luận văn cũng sẽ đưa ra những kiến nghị Comment [hn2]: Em nên viết cụ thể hơn việc đánh giá theo cách như vậy chưa đảm bảo được yêu cầu gì, nhất là trong bối cảnh sẽ còn tiếp tục thực nhằm mục tiêu cuối cùng là giúp ban quản lý trung ương cùng các Tỉnh thụ hiện pha 2 của dự án. Điều này dẫn tới luận văn đánh giá hướng tới những điều đó hưởng nguồn tài trợ có thể thực hiện hoạt động của dự án ở giai đoạn 2 tốt hơn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong giai đoạn tới. Tổng quan nghiên cứu Đánh giá cuối kỳ dự án sử dụng ODA do Bộ Giáo dục và Đào tạo làm đơn vị Chủ quản như: Báo cáo đánh giá kết thúc của “Chương trình phát triển giáo dục trung học” và báo cáo đánh giá cuối kỳ “Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học”. Các báo cáo trên là nguồn tài liệu rất sát với đề tài khi đánh giá dự án tại thời điểm kết thúc.
Các báo cáo chủ yếu đánh giá chi tiết 3 các chỉ số, kết quả cuối kỳ trên các chỉ tiêu đã đặt ra và đi sâu vào các nguyên nhân của việc giải ngân chậm và các lĩnh vực không thể giải ngân của dự án. Tuy nhiên, các báo cáo trên chỉ dừng lại ở việc so sánh kết quả đạt được của dự án tại thời điểm kết thúc so với mục tiêu đặt ra khi thiết kế dự án mà chưa đánh giá tổng quan các mặt thông qua bộ tiêu chí đánh giá. Đã có một số nghiên cứu về các góc độ liên quan đến dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) như: “Hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại khu vực Tây Bắc, Việt Nam”- Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh – 2015. Trên cơ sở những lý thuyết cơ bản về ODA và đánh giá hiệu quả sử dụng ODA, tác giả đánh giá hiệu quả sử dụng ODA tại khu vực Tây Bắc trên cả hai phương diện là đánh giá định lượng và đánh giá định tính.
Thông qua đánh giá này tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA tại các tỉnh khu vực Tây Bắc, Việt Nam. Luận án đánh giá hiệu quả của các dự án trong khu vực và nêu lên những khó khăn đặc thù của các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam gặp phải trong quá trình hoạt động của dự án cùng với đó là các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Nghiên cứu của Tiến sĩ Hà Thị Thu “Phân tích thực trạng thu hút và sử dụng ODA tại vùng Duyên hải Miền Trung” - 2016. Nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận của nguồn vốn ODA đối với nông nghiệp và phát triển kinh tế tại các tỉnh vùng Duyên hải Miền trung.
Bên cạnh đó, luận án đã phân tích thực trạng thu hút và sử dụng ODA tại vùng Duyên hải Miền trung cùng với những giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn ODA, đề xuất thành lập ban quản lý dự án chuyên nghiệp và tăng cường công tác quản lý sử dụng nguồn vốn ODA một cách hiệu quả tại các địa phương thụ hưởng nguồn vốn này. Thấy rằng, các giải pháp và đề xuất của Nghiên cứu trên rất xác đáng và chính là một trong những gợi ý cho Luận văn này học hỏi khi đưa ra các giải pháp khắc phục những khó khăn mà Dự án đang đánh giá phải đối mặt. 4 Thạc sĩ Nguyễn Thùy Vân, Đại học Thương mại với bài báo trên trang Tạp chí Tài chính kỳ 2 số tháng 3 năm 2016 “Tăng cường hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA trong thời gian tới”. Theo Tác giả, hiện nay Việt Nam đã trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, chính sách viện trợ ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đối với nước ta trong thời gian sắp tới sẽ có nhiều thay đổi mạnh mẽ, chuyển đổi căn bản từ quan hệ viện trợ phát triển sang quan hệ đối tác.
Nhận định của bài báo khá phù hợp với mục tiêu của luận văn này và là một trong những căn cứ cho thấy sự cần thiết của việc rà soát đánh giá dự án ODA nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư công. Tác giả An Nhi trên Trang Kinh tế và Dự báo tháng 8/2015 với bài “20 năm huy động và sử dụng ODA tại Việt Nam: Vẫn tồn tại nhiều hạn chế”. Bài báo cho rằng, bên cạnh các kết quả nổi bật, công tác quản lý và sử dụng ODA thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế như: thủ tục hành chính rườm rà, bộ máy cồng kềnh, trách nhiệm các cấp thực hiện không rõ ràng, thiếu linh hoạt trong triển khai, chưa phân định được trách nhiệm các đơn vị thực hiện trong trường hợp dự án không có hiệu quả. Đặc biệt, một số ngành và địa phương chậm tiến độ thực hiện các chương trình và dự án, tỷ lệ giải ngân trung bình của dự án ODA trong giai đoạn 2010-2015 chưa tới 70%, nhiều trường hợp phải xin gia hạn.
Hậu quả của việc chậm tiến độ dẫn đến việc một số dự án phải cắt giảm, hủy một số hạng mục và hoạt động hoặc phải tái cấu trúc toàn bộ dự án. Bài báo nêu rất rõ những hạn chế mà nhiều dự án sử dụng ODA mắc phải và hướng giải quyết cho những vướng mắc và đâycũng chính là một trong những tư liệu cần thiết khi thực hiện luận văn này. Dự án “Hỗ trợ chuẩn bị và thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội dựa trên kết quả giai đoạn 2011-2015” được thành lập do Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đơn vị chủ quản và nguồn hỗ trợ từ ADB đã nêu ra Tiêu chí đánh giá và hệ thống xếp hạng kết quả các chương trình dự án đầu tư công. Dự án Tăng 5 cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non là dự án đầu tư mang tính phúc lợi cao trong lĩnh vực xã hội.
Dự án SRPP là dự án đầu tư công hướng tới mục tiêu an sinh xã hội, thúc đẩy giáo dục mầm non, quan tâm hơn tới trẻ em trong độ tuổi mầm non bị thiếu hụt các kỹ năng cần thiết chuẩn bị vào lớp 1. Đối tượng hưởng lợi của dự án chủ yếu là trẻ dân tộc thiểu số, trẻ em có hoàn cảnh gia đình khó khăn và trẻ em ở các địa phương được xếp vào danh mục đặc biệt khó khăn của cả nước. Tính chất của dự án SRPP phù hợp với đối tượng có thể áp dụng bộ tiêu chí đánh giá và hệ thống xếp hạng trong đánh giá chương trình dự án đầu tư công của dự án CDTA thực hiện. Đây là nguồn tài liệu rất phù hợp, là khung lý thuyết được sử dụng cho luận văn này.