Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tình trạng thiếu hiểu biết về tác dụng, chỉ định, chống chỉ định cũng như cách thức sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam từng nằm trong nhóm 5 quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới và đứng thứ 3 toàn cầu với khoảng 1,52 triệu ca, đồng thời là quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất khu vực châu Á. Số liệu thống kê năm 2018 cho thấy tổng tỷ suất phá thai tại Việt Nam là 0,42 (tương ứng trung bình cứ 5 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ thì có 2 người từng phá thai ít nhất một lần). Trung bình mỗi năm cả nước ghi nhận khoảng 250.000 đến 300.000 ca nạo phá thai chính thức. Mặc dù xu hướng phá thai chung có giảm trong thập kỷ qua, nhưng tỷ lệ quan hệ tình dục sớm và mang thai ngoài ý muốn ở lứa tuổi vị thành niên, thanh niên lại có xu hướng gia tăng, với khoảng 50% vị thành niên không sử dụng biện pháp bảo vệ trong lần quan hệ đầu tiên.

Số liệu Điều tra Biến động dân số (BĐDS) năm 2016 ghi nhận tỷ lệ sử dụng BPTT bất kỳ ở Việt Nam đạt 77,6%, trong đó BPTT hiện đại đạt 66,5%. Tuy nhiên, việc duy trì và áp dụng đúng phương pháp vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ khả năng tiếp cận thông tin, chi phí và chất lượng tư vấn của cán bộ y tế. Tư vấn đóng vai trò cốt lõi trong việc giúp phụ nữ tiếp cận, lựa chọn và sử dụng BPTT phù hợp với thể trạng và hoàn cảnh cá nhân.

Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn tại tuyến cơ sở, chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Điều dưỡng Sản phụ khoa của tác giả Phạm Thị Thu Hương tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định thực hiện đề tài nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng công tác tư vấn của nhân viên y tế về biện pháp tránh thai cho phụ nữ đến khám tại Trung tâm Y tế (TTYT) thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh năm 2022.
  2. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tư vấn của nhân viên y tế về biện pháp tránh thai cho phụ nữ tại cơ sở y tế này.
  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ nhân viên y tế trực tiếp tham gia công tác tư vấn tại đơn nguyên Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) thuộc Khoa Phụ Sản - Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) (12 người) và tất cả khách hàng đến khám, nhận tư vấn về BPTT đồng ý tham gia nghiên cứu (36 người).
  • Phạm vi không gian: Đơn nguyên KHHGĐ, Khoa Phụ Sản - CSSKSS, Trung tâm Y tế thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên các định nghĩa, nguyên tắc chuyên môn và hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước và Bộ Y tế Việt Nam:

  • Nguyên tắc kế hoạch hóa gia đình: Dựa trên sự kết hợp của 4 yếu tố: Tự nguyện, lựa chọn khi đã đầy đủ thông tin, có đầy đủ các BPTT, được cung cấp dịch vụ an toàn và thuận tiện; đảm bảo 10 quyền cơ bản của khách hàng (quyền được thông tin, tiếp cận, tự do lựa chọn/từ chối, an toàn, bí mật, kín đáo, thoải mái, tôn trọng, tiếp tục nhận dịch vụ, bày tỏ ý kiến).
  • Quy trình 6 bước tư vấn KHHGĐ chuẩn: Ban hành theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế, bao gồm:
    1. Bước 1 - Gặp gỡ: Chào đón, tạo thiện cảm, mời ngồi ngang hàng, tự giới thiệu danh tính và chức vụ.
    2. Bước 2 - Gợi hỏi: Thu thập thông tin hành chính, tiền sử bệnh tật, sản khoa, hôn nhân, tình trạng hoạt động tình dục và hiểu biết về BPTT bằng câu hỏi mở.
    3. Bước 3 - Giới thiệu: Cung cấp thông tin các BPTT phù hợp với nhu cầu sinh sản, nêu rõ ưu điểm, nhược điểm, tác dụng phụ và tai biến.
    4. Bước 4 - Giúp đỡ: Hướng dẫn khách hàng tự lựa chọn BPTT bằng mô hình, tranh ảnh; không áp đặt; giải thích chuyển hướng nếu khách hàng chọn phương pháp có chống chỉ định.
    5. Bước 5 - Giải thích: Hướng dẫn cách sử dụng, nguyên nhân thất bại, dấu hiệu cảnh báo, khả năng hồi phục khả năng sinh sản, lịch khám định kỳ và yêu cầu nhắc lại thông tin.
    6. Bước 6 - Gặp lại: Hẹn tái khám, dặn dò các dấu hiệu bất thường cần quay lại ngay, tiễn khách.
  • Hệ thống văn bản pháp lý trích dẫn:
    • Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số (Điều 8, 14, 15, 18, 19, 20).
    • Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010.
    • Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
    • Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.
    • Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và quan sát thực hành.
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện toàn bộ. Trong thời gian nghiên cứu (4/2022 - 6/2022), thu thập được cỡ mẫu gồm 12 nhân viên y tế (toàn bộ nhân lực đơn nguyên KHHGĐ) và 36 khách hàng đến nhận dịch vụ tư vấn BPTT.
  • Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu:
    • Bảng kiểm quan sát: Sử dụng để quan sát trực tiếp quy trình thực hành tư vấn của nhân viên y tế theo 6 bước chuẩn quốc gia (36 tiêu chí quan sát).
    • Bộ câu hỏi phỏng vấn khách hàng: Khảo sát phản hồi độc lập từ 36 khách hàng sau buổi tư vấn nhằm đối chiếu với kết quả quan sát thực tế và đánh giá sự hài lòng về cơ sở vật chất.
  • Xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tính toán tần số ($n$) và tỷ lệ phần trăm ($%$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành, phân loại toàn diện các biện pháp tránh thai và tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan:

  • Phân loại BPTT:
    • BPTT hiện đại cho nữ: Dụng cụ tử cung (DCTC), thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai (que cấy), thuốc uống tránh thai kết hợp, triệt sản nữ, màng ngăn âm đạo, mũ cổ tử cung, miếng xốp âm đạo, nhẫn tránh thai và miếng dán tránh thai.
    • BPTT hiện đại cho nam: Bao cao su, thuốc diệt tinh trùng (nonoxynol), triệt sản nam (thắt ống dẫn tinh).
    • BPTT truyền thống: Phương pháp tính vòng kinh, phương pháp chất nhầy cổ tử cung, phương pháp đo thân nhiệt cơ bản, xuất tinh ngoài âm đạo và kiêng giao hợp. Tác giả phân tích rõ ưu điểm (không tốn kém, không can thiệp hóa chất/dụng cụ) và nhược điểm (tỷ lệ thất bại cao, phụ thuộc nhiều vào hành vi).
  • Tổng quan nghiên cứu thực tiễn:
    • Quốc tế: Nghiên cứu tại Ai Cập chỉ ra tư vấn "lấy khách hàng làm trung tâm" giúp nâng cao tỷ lệ tiếp tục sử dụng BPTT so với phương pháp "lấy bác sĩ làm trung tâm"; các nghiên cứu của WHO, tại Hoa Kỳ, Senegal, Bangladesh nhấn mạnh vai trò của việc cung cấp thông tin tác dụng phụ và giao tiếp bình đẳng giữa nhân viên y tế và khách hàng.
    • Việt Nam: Nghiên cứu chất lượng dịch vụ KHHGĐ năm 2018 (93% khách hàng hài lòng nhưng chỉ 40% sẵn sàng giới thiệu cơ sở); khảo sát của UNFPA tại Hà Giang (2003); nghiên cứu của Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em (2007) và nghiên cứu của Trần Thị Quý tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (2020) về mức độ tương đồng/sai lệch trong đánh giá giữa nhân viên y tế và người bệnh.

Chương 2: Thực trạng công tác tư vấn

Chương 2 mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu, nhân sự và kết quả khảo sát chi tiết:

  • Địa bàn nghiên cứu: Khoa Phụ Sản - CSSKSS của TTYT thị xã Quảng Yên gồm 3 đơn nguyên: Sản đẻ, Sản phụ và KHHGĐ (thành lập từ tháng 4/2007). Hàng năm đơn nguyên KHHGĐ thực hiện tư vấn cho trên 400 lượt khách hàng, thực hiện hút thai chân không từ 6 đến 12 tuần, phá thai nội khoa đến 7 tuần, triển khai các kỹ thuật đặt/tháo DCTC, cấy que và hút thai dưới siêu âm (từ tháng 6/2019).
  • Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:
    • Nhân viên tư vấn ($n=12$): Gồm 4 bác sĩ và 8 hộ sinh; nhóm tuổi 30–39 chiếm 50,0%, dưới 30 tuổi chiếm 33,3%, từ 40 tuổi trở lên chiếm 16,7%; trình độ chuyên môn Đại học chiếm 50,0%, Sau đại học chiếm 25,0%, Trung cấp - Cao đẳng chiếm 25,0%; thời gian công tác $\ge 5$ năm chiếm 58,4%, $< 5$ năm chiếm 41,6%; 100% đã qua các lớp tập huấn về BPTT.
    • Khách hàng ($n=36$): Nhóm tuổi 35–39 chiếm tỷ lệ cao nhất (30,5%), tiếp đến là 30–34 tuổi (27,8%), 25–29 tuổi (22,2%), từ 40 tuổi trở lên (11,2%) và dưới 25 tuổi (8,3%); trình độ học vấn Đại học chiếm 44,4%, THPT chiếm 27,8%, THCS và Tiểu học cùng chiếm 5,6%; đặc biệt có 44,4% phụ nữ đang sử dụng BPTT nhưng chưa từng được nhân viên y tế tư vấn trước đó.
  • Thực trạng thực hiện quy trình tư vấn qua quan sát và phỏng vấn khách hàng:
Các bước và kỹ năng tư vấn chính Tỷ lệ NVYT thực hiện qua quan sát ($n=12$) Tỷ lệ khách hàng ghi nhận ($n=36$)
Bước 1: Gặp gỡ
- Chào hỏi niềm nở, gây thiện cảm, giúp an tâm 100% 83,3%
- Mời khách hàng (và người đi cùng) ngồi ngang hàng 100% 100%
- Tự giới thiệu tên, chức danh, nhiệm vụ 50,0% 77,7%
Bước 2: Gợi hỏi
- Hỏi thông tin hành chính, lý do đến khám 100% 100%
- Tôn trọng tính bí mật, hỏi ý kiến về người cùng nghe 100% 100%
- Khai thác tiền sử bệnh toàn thân, phụ khoa, sản khoa 100% 100%
- Khai thác tình trạng hoạt động tình dục 66,6% 80,5%
- Khai thác hiểu biết của khách hàng về BPTT 100% 83,3%
- Sử dụng hầu hết câu hỏi mở 58,3% 72,2%
- Thái độ thân mật, đồng cảm, lắng nghe 100% 94,4%
Bước 3: Giới thiệu
- Giới thiệu BPTT dựa trên nhu cầu thực tế của khách hàng 83,3% 72,2%
- Cung cấp đủ thông tin thuận lợi, bất lợi, tác dụng phụ, tai biến 100% 100%
- Giải thích kỹ điều khách muốn biết, sửa nhận thức sai 75,0% 75,0%
Bước 4: Giúp đỡ
- Giúp hiểu đầy đủ qua tranh ảnh, mô hình, hiện vật 100% 100%
- Không áp đặt, để khách hàng tự lựa chọn 100% 63,8%
- Nhẹ nhàng giải thích khi chọn phương pháp có chống chỉ định 100% 80,5%
Bước 5: Giải thích
- Hướng dẫn thủ tục, quy trình thực hiện dịch vụ 100% 100%
- Hướng dẫn chi tiết cách sử dụng BPTT đã chọn 100% 100%
- Giải thích nguyên nhân có thể dẫn đến thất bại của BPTT 100% 80,5%
- Hướng dẫn xử trí tác dụng phụ tại nhà và cảnh báo tai biến 100% 97,2% - 100%
- Nêu rõ khả năng phục hồi sinh sản sau khi ngừng BPTT 75,0% 86,1%
- Nhắc nhở và giải thích lý do khám định kỳ 100% 100%
- Giải thích nhận thức sai lệch do tin đồn 83,3% 63,8%
- Yêu cầu khách hàng nhắc lại thông tin để phản hồi 50,0% 66,6%
Bước 6: Gặp lại
- Hẹn lịch tái khám gần nhất 100% 100%
- Căn dặn các trường hợp cấp thiết cần quay lại ngay 100% 100%
- Khuyến khích quay lại và hứa hẹn đón tiếp chu đáo 100% 88,8% - 97,2%
- Chào tạm biệt và tiễn khách 100% 100%
  • Đánh giá về cơ sở vật chất: 86,1% nhân viên y tế và 88,3% khách hàng đánh giá cơ sở vật chất của Trung tâm đáp ứng được nhu cầu phục vụ hiện tại (còn lại 13,9% nhân viên và 11,7% khách hàng nhận định chưa đáp ứng tốt do không gian phòng tư vấn còn hạn chế, lượng khách đông gây quá tải cục bộ).

Chương 3: Bàn luận

Tác giả phân tích nguyên nhân của các khoảng trống và điểm hạn chế phát hiện trong nghiên cứu:

  • Khoảng cách nhận thức giữa NVYT và khách hàng: Nhân viên y tế tự đánh giá 100% chào hỏi niềm nở, nhưng khách hàng chỉ ghi nhận 83,3%, phản ánh kỹ năng giao tiếp và biểu cảm phi ngôn ngữ chưa thực sự đồng nhất với mong muốn truyền đạt.
  • Thiếu sót trong giới thiệu bản thân và đặt câu hỏi mở: Chỉ 50% nhân viên chủ động giới thiệu chức danh, nhiệm vụ và chỉ 58,3% sử dụng chủ yếu câu hỏi mở. Nguyên nhân do thói quen làm việc theo lối mòn và thiếu kỹ năng điều hướng hội thoại.
  • Khai thác thông tin tình dục: Tỷ lệ thực hiện thấp (66,6% qua quan sát) do tính chất nhạy cảm của chủ đề, khách hàng e ngại và nhân viên chưa tạo đủ sự tin cậy, thoải mái ban đầu.
  • Hiện tượng áp đặt lựa chọn: Mặc dù 100% nhân viên khẳng định tôn trọng quyền tự quyết của khách hàng, có 36,2% khách hàng phản ánh cảm giác bị nhân viên y tế định hướng hoặc áp đặt phương pháp. Tác giả chỉ ra rằng cán bộ y tế thường mang thiên kiến chuyên môn, tự quyết định biện pháp tối ưu theo quan điểm kỹ thuật rồi thuyết phục khách hàng theo hướng đó.
  • Kiểm tra phản hồi: Bước "Đề nghị khách hàng nhắc lại thông tin" chỉ đạt 50,0% qua quan sát do áp lực thời gian khám bệnh đông, dẫn đến nguy cơ khách hàng quên hướng dẫn sử dụng và tăng tỷ lệ thất bại khi áp dụng BPTT tại nhà.
  • Đề xuất giải pháp:
    • Nâng cao năng lực cán bộ qua đào tạo liên tục về kỹ năng giao tiếp, tư vấn lấy khách hàng làm trung tâm.
    • Bổ sung kinh phí đầu tư phòng tư vấn riêng biệt, bảo đảm tính riêng tư; trang bị thêm tranh ảnh, mô hình trực quan.
    • Xây dựng quy trình sàng lọc và theo dõi hỗ trợ khách hàng trước và sau thực hiện thủ thuật KHHGĐ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Năng lực và mức độ tuân thủ quy trình của cán bộ y tế: Đội ngũ tư vấn có trình độ học vấn khá cao (75% có trình độ Đại học và Sau đại học; 100% đã qua tập huấn chuyên môn). Nhân viên y tế thực hiện đạt 100% ở các bước: giải thích quy trình thủ tục, hướng dẫn cách sử dụng BPTT, dặn dò tác dụng phụ, giải thích khám định kỳ và hẹn ngày tái khám.
  2. Các điểm hạn chế còn tồn tại:
    • Bước giới thiệu tên, chức danh của nhân viên chỉ đạt 50,0% qua quan sát.
    • Kỹ năng sử dụng câu hỏi mở đạt 58,3%; khai thác tiền sử hoạt động tình dục đạt 66,6%.
    • Bước yêu cầu khách hàng nhắc lại thông tin để kiểm tra mức độ hiểu bài chỉ đạt 50,0%.
    • Có 36,2% khách hàng cảm thấy bị áp đặt biện pháp tránh thai và 19,5% khách hàng chưa được giải thích rõ về các nguyên nhân thất bại của BPTT.
    • Tỷ lệ phụ nữ đang dùng BPTT tại cộng đồng nhưng chưa từng được tư vấn trước đó lên tới 44,4%.

Đóng góp thực tiễn của khóa luận

  • Cung cấp bức tranh thực chứng về chất lượng thực hành tư vấn KHHGĐ theo 6 bước chuẩn tại TTYT thị xã Quảng Yên năm 2022.
  • Làm rõ sự sai lệch giữa cảm nhận chủ quan của nhân viên y tế và trải nghiệm thực tế của khách hàng, chỉ ra các "điểm nghẽn" giao tiếp cần khắc phục trong chuyên ngành điều dưỡng sản phụ khoa tuyến huyện.
  • Đề xuất hệ thống khuyến nghị 3 bên (đối với Trung tâm y tế, đối với nhân viên y tế và đối với khách hàng).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện tại một cơ sở y tế duy nhất (TTYT thị xã Quảng Yên) trong khoảng thời gian ngắn (3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6/2022) với cỡ mẫu còn hạn chế ($n = 12$ nhân viên y tế và $n = 36$ khách hàng) theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Các kết quả do đó mang tính đặc thù địa phương cao, chưa đại diện cho toàn bộ hệ thống y tế cơ sở tỉnh Quảng Ninh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm tại nhiều trung tâm y tế tuyến huyện và trạm y tế xã/phường; tăng cỡ mẫu khách hàng; đánh giá can thiệp đào tạo kỹ năng tư vấn cho điều dưỡng/hộ sinh và theo dõi tỷ lệ duy trì BPTT sau 6-12 tháng tư vấn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp này là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Điều dưỡng Sản phụ khoa, Hộ sinh, Y tế công cộng: Tham khảo khung thiết kế bảng kiểm quan sát thực hành tư vấn và bảng câu hỏi khảo sát sự hài lòng theo quy trình 6 bước chuẩn của Bộ Y tế.
  • Cán bộ quản lý tại các Trung tâm Y tế tuyến quận/huyện và Khoa Phụ Sản - CSSKSS: Tham khảo mô hình tự đánh giá chất lượng dịch vụ tư vấn, từ đó xây dựng kế hoạch tập huấn kỹ năng giao tiếp và bố trí cơ sở vật chất phòng tư vấn đạt chuẩn.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu sử dụng khung quy trình tư vấn nào làm chuẩn đánh giá?

Nghiên cứu áp dụng quy trình tư vấn Kế hoạch hóa gia đình gồm 6 bước chuẩn theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế, bao gồm: Bước 1 - Gặp gỡ; Bước 2 - Gợi hỏi; Bước 3 - Giới thiệu; Bước 4 - Giúp đỡ; Bước 5 - Giải thích; Bước 6 - Gặp lại.

2. Cỡ mẫu nghiên cứu và đối tượng khảo sát gồm những ai?

Cỡ mẫu thu thập theo phương pháp thuận tiện trong 3 tháng (4/2022 - 6/2022) gồm 12 nhân viên y tế (toàn bộ nhân lực tại đơn nguyên KHHGĐ, gồm 4 bác sĩ và 8 hộ sinh) và 36 khách hàng đến khám, nhận tư vấn về BPTT tại đơn nguyên KHHGĐ, Khoa Phụ Sản - CSSKSS, TTYT thị xã Quảng Yên.

3. Những khâu nào trong quy trình 6 bước có tỷ lệ thực hiện thấp nhất qua quan sát?

Qua quan sát trực tiếp 12 nhân viên y tế, các bước có tỷ lệ thực hiện thấp nhất gồm:

  • Tự giới thiệu tên, chức vụ, nhiệm vụ: đạt 50,0%.
  • Đề nghị khách hàng nhắc lại một số điểm để kiểm tra thông tin phản hồi: đạt 50,0%.
  • Sử dụng hầu hết các câu hỏi mở: đạt 58,3%.
  • Khai thác tình trạng hoạt động tình dục: đạt 66,6%.

4. Tỷ lệ khách hàng cảm thấy bị nhân viên y tế áp đặt lựa chọn BPTT là bao nhiêu?

Theo kết quả phỏng vấn 36 khách hàng, có 63,8% khách hàng ghi nhận nhân viên không áp đặt, đồng nghĩa với việc còn 36,2% khách hàng cảm thấy nhân viên y tế áp đặt hoặc định hướng áp đặt biện pháp tránh thai cho mình.

5. Tác giả đề xuất những giải pháp trọng tâm nào đối với Trung tâm Y tế thị xã Quảng Yên?

Tác giả đề xuất Trung tâm cần: xây dựng chiến lược truyền thông và tư vấn hiệu quả nhằm giảm tỷ lệ dùng BPTT tự nhiên, tăng BPTT hiện đại; tăng cường kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, mở rộng phòng tư vấn riêng biệt; bổ sung nhân lực y tế nhằm giảm áp lực quá tải; và tổ chức các lớp đào tạo liên tục cập nhật kiến thức chuyên môn cùng kỹ năng mềm cho đội ngũ cán bộ.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thu Hương đã phản ánh khách quan thực trạng thực hiện quy trình 6 bước tư vấn BPTT của đội ngũ cán bộ y tế tại Khoa Phụ Sản - CSSKSS, TTYT thị xã Quảng Yên năm 2022. Bên cạnh việc tuân thủ tốt các nội dung chuyên môn kỹ thuật và hướng dẫn sử dụng, nghiên cứu chỉ ra những thiếu sót đáng kể trong kỹ năng giao tiếp, việc sử dụng câu hỏi mở, kiểm tra mức độ ghi nhớ của khách hàng và hiện tượng định hướng áp đặt phương pháp. Các kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn giúp cơ sở y tế nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình tại tuyến cơ sở.