MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của chuyên đề Luật đất đai năm 2003 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng”. Điều này đã thể hiện rõ vai trò và tầm quan trọng của đất đai trong đời sống kinh tế, xã hội. Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan chúng ta chưa làm tốt công tác quản lý đất đai, buông lỏng công tác này đã tạo khe hở cho các tiêu cực trong xã hội phát triển mạnh.
Trong khi đó nước ta là một nước đông dân (87 triệu người) mà diện tích tự nhiên có hạn (trên 33 triệu ha), trong đó: có 9,3 triệu ha đất nông nghiệp; 11,6 triệu ha đất lâm nghiệp; 1,5 triệu ha đất chuyên dùng; 0,5 triệu ha đất ở; còn lại là đất chưa sử dụng. Do vậy, nhu cầu về đất trở nên cấp thiết hơn khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải quản lý, sử dụng và bảo vệ đất như thế nào để đáp ứng được yêu cầu cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để làm được điều đó Nhà nước giao trách nhiệm cho nghành Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) phối hợp cùng các cấp, ban nghành chính quyền địa phương thực hiện hàng loạt các biện pháp như: Đo đạc, phân hạng, đánh giá đất đai, lập quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CGCNQSD đất).
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng, và nó là chứng thư pháp cao nhất xác định mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và chủ sử dụng đất, để chủ sử dụng đất yên tâm sản xuất, đầu tư, khai thác tốt tiềm năng và chấp hành tốt luật đất đai, đồng thời Nhà nước cũng quản lý chặt chẽ được nguồn tài nguyên đất đai của mình đến từng chủ sử dụng. Từ đó lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý và hiệu quả. n 2 Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Quản lí tài nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo – ThS. Hoàng Hữu Chiến, em tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Bằng Vân, huyện Ngân sơn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2013”.
Mục đích của chuyên đề - Đánh giá kết quả cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn - Xác định những thuận lợi, khó khăn trong công tác cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. - Đề xuất những giải pháp để khắc phục những tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác cấp GCNQSD đất tại địa phương. Yêu cầu của chuyên đề - Nắm vững và thực hiện những quy định trong Luật đất đai 2003, các văn bản dưới luật về công tác cấp GCNQSD đất, các văn bản của ngành và của tỉnh Bắc Kạn về công tác cấp GCNQSD đất. - Các số liệu phản ánh trung thực, khách quan về tình trạng cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Các giải pháp đưa ra phải rõ ràng, có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn của địa phương và Pháp luật. Ý nghĩa của chuyên đề - Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên củng cố những kiến thức đã học trong Nhà trường và bước đầu áp dụng vào thực tiễn phục vụ yêu cầu công việc sau khi ra trường. - Ý nghĩa thực tiễn: Đáp ứng được vấn đề cấp bách của xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn trong công tác cấp GCNQSD đất, giúp UBND xã Bằng Vân tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và pháp lý của công tác đăng ký đất đai cấp GCNQSD đất 2. Cơ sở khoa học của công tác đăng ký đất đai cấp GCNQSD đất 2. Công tác cấp GCNQSD đất đối với quản lý Nhà nước về đất đai Từ thập niên 80 trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến đáng kể. Nền kinh tế tự cung, tự cấp đã dần chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế ngày càng phát triển dẫn đến sự đa dạng hàng hoá các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất. Từ chỗ kinh tế quốc doanh chiếm đa số đến nay kinh tế tư nhân, liên doanh, liên kết phát triển đúng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân. Nhờ có chính sách đổi mới đó mà đời sống người dân ngày càng cải thiện. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý đất đai là làm sao đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của ngành sản xuất và của đời sống người dân; Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm giải quyết.
Theo khoản 20 Điều 4 Luật đất đai 2003 quy định: “GCNQSD đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”. Như vậy, GCNQSD đất đai hợp pháp của người sử dụng đất là một trong những quyền quan trọng được người sử dụng đất đặc biệt quan tâm. Thông qua công tác cấp GCNQSD đất, Nhà nước xác lập mối quan hệ pháp lý của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng. Công tác cấp GCNQSD đất giúp Nhà n 4 nước nắm chắc được tình hình đất đai biết chính xác về số lượng, chất lượng, đặc điểm về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất.
Vì vậy, cấp GCNQSD đất là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Công tác cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng đất đối với người sử dụng. - GCNQSD đất là chứng thư quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và người sử dụng đất. - GCNQSD đất là điều kiện để người sử dụng đất được bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình sử dụng đất.
- GCNQSD đất là điều kiện để đất đai được tham gia vào thị trường bất động sản. Căn cứ pháp lý của chuyên đề. Các văn bản pháp lý của nhà nước liên quan đến công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Nhận thức được tầm quan trọng của đất đai đối với xã hội và phát triển kinh tế, nên ngay từ khi giành được độc lập Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề quản lý đất đai. Tháng 11 năm 1953 Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ IV quyết định triệt tiêu chế độ sở hữu ruộng đất của đế quốc xâm lược, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp phong kiến Việt Nam và thực hiện chia lại ruộng đất cho nhân dân.
Qua các giai đoạn phát triển của đất nước, công tác quản lý đất đai cũng dần được hoàn thiện. Nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Khởi đầu là ngày 19/12/1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 179/SL ban hành Luật cải cách ruộng đất cho nhân dân. Đến Hiến pháp năm 1959 ra đời quy định 3 hình thức sở hữu ruộng đất đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân.
Với sự ra đời của 3 hình n 5 thức sở hữu này đã giúp cho nhân dân Miền Bắc yên tâm tập trung sản xuất, nâng cao năng suất nông nghiệp đảm bảo nhu cầu lương thực cho cả nước. Sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng và giành được độc lập Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách đất đai cho phù hợp với điều kiện mới của đất nước. Ngày 20/6/1977 Chính phủ ban hành quyết định 169/CP với nội dung thống kê đất đai trong cả nước. Theo quy định tại hiến pháp năm 1959 ở nước ta có 3 hình thức sở hữu về đất đai thì sau khi hiến pháp năm 1980 ra đời đã quy định hình thức sở hữu đối với đất đai ở nước ta chỉ còn một hình thức duy nhất là hình thức sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất và quản lý.
Điều này được thể hiện tại điều 19 hiến pháp 1980 “Đất đai, núi rừng, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất ở vùng biển và thềm lục địa cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân”. Điều 20 Hiến pháp 1980 cũng quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy định chung”. Để thực hiện tốt Hiến pháp năm 1980 và công tác quản lý đất đai, Chính phủ đã ban hành các văn bản liên quan đến hiến pháp này như: Ngày 01/7/1980 Chính phủ ra Quyết định số 201/CP về việc thống nhất tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Trong đó quy định vấn đề cấp GCNQSD đất là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai.
Quyết định này được coi là văn bản pháp quy đầu tiên quy định khá chi tiết, toàn diện về công tác quản lý ruộng đất trong toàn Quốc. Tiếp theo Quyết định 201/CP là Chỉ thị số 299/TTg Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước với mục đích nắm chắc toàn bộ quỹ đất đáp ứng Yêu cầu quản lý và sử dụng đất trong giai đoạn mới. Ngày 05/11/1981 Quyết định 56/ĐK-TK ra đời nhằm tăng cường công tác chức năng nhiệm vụ quản lý, quy định thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất n 6 và lập biểu mẫu hồ sơ địa chính. Sau khi ra đời nó đã được áp dụng và triển khai nhanh chóng trong cả nước.
Đây là hệ thống hồ sơ đầu tiên được ban hành với nhiều biểu loại mẫu giấy tờ sổ sách để quản lý thông tin đất đai khoa học và chặt chẽ hơn. Nó có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý đất đai trong giai đoạn này. Ngày 29 tháng 12 năm 1987 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Đất đai đầu tiên và có hiệu lực vào ngày 08/1/1988. Do vậy việc quản lý đất đai đã được chú trọng hơn và đi vào nề nếp.