ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất cơ bản và quan trọng nhất của tất cả mọi quá trình sản xuất, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Nó tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế-xã hội, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia, là kết quả đấu tranh hàng nghìn năm của toàn dân tộc, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của loài người. Đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, không thể thay thế và di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng tài nguyên này một cách hợp lý không những có ý nghĩa quyết định đến sợ phát triển của nền kinh tế của đất nước mà còn đảm bảo cho mục tiêu chính trị và phát triển xã hội.
Nước ta, hiện nay đang trong công cuộc đổi mới chúng ta tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo cơ cấu thị trường có sự quản lý của nhà nước kéo theo nhu cầu đất đai của các ngành ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng, bên cạnh đó tình hình sử dụng đất của các địa phương trong cả nước ngày càng một đa dạng và phức tạp. Vậy nên ngành quản lý đất đai buộc phải có những thông tin, dữ liệu về tài nguyên đất một cách chính xác đầy đủ cùng với sự tổ chức sắp xếp và quản lý một cách khoa học và chặt chẽ thì mới có thể sử dụng hiệu quả cho nhiều mục đích khác nhau phục vụ cho việc khai thác, quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất gắn liền với quan điểm sinh thái và bảo vệ môi trường. Cùng với các biện pháp như quy hoạch, kế 2 hoạch sử dụng đất…., công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất luôn được đặt ra hàng đầu nhằm tạo ra sự ổn định trong quá trình sử dụng đất, mặt khác nó cũng tạo điều kiện cho đất đai được đầu tư, tái khả năng sản xuất. Công tác cấp GCNQSD đất là chứng thư pháp lý cao nhất, xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước với người sử dụng đất.
Để chủ sử dụng đất yên tâm sản xuất, chủ động đầu tư vào khai thác tiềm năng đất một cách có hiệu quả và chấp hành tốt luật đất đai. Đồng thời, nhà nước quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất đai đến từng chủ sử dụng đất từ đó lập phương án quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả. Với vai trò là sinh viên thực tập tốt nghiệp, được sự nhất trí của ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và sự phân công của Khoa Quản Lý Tài Nguyên. Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2012 - 2014”.
để em có thể tìm hiểu sâu hơn về quy trình cấp GCNQSD đất , cũng như tìm ra phương án tối ưu giúp công tác cấp GCNQSD đất đạt hiệu quả cao hơn. Mục tiêu - Đánh giá được thực trạng việc cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Thịnh Đức giai đoạn 2012 - 2014 - Phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn còn tồn tại trong công tác thực hiện chuyển quyền sử dụng đất trên địa bàn; - Đề xuất một số giải pháp cho việc thực hiện chuyển quyền sử dụng đất trên địa bàn để giúp công tác quản lý được tốt hơn. Yêu cầu - Nắm vững quy trình pháp quy, các văn bản pháp quy liên quan đến công tác cấp GCNQSD đất để vận dụng vào quá trình phân tích, đánh giá nội dung của đề tài. 3 - Số liệu điều tra, thu thập phục vụ nghiên cứu đề tài phải chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng tình hình thực tế tại địa phương.
- Các kiến nghị, giải pháp đề xuất được rút ra từ kết quả nghiên cứu đề tài phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Củng cố những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác cấp GCNQSD đất ngoài thực tế. - Trong thực tiễn: Đề tài nghiên cứu kết quả cấp GCNQSD đất tại xã Thịnh Đức, từ đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác cấp GCNQSD đất của xã được hiệu quả hơn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở lý luận và những căn cứ pháp lý của công tác cấp GCNQSD đất 2.
Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Năm 2003, Quốc hội khóa XI đó thông qua Luật Đất đai ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2004. Luật đất đai 2003 đó sửa đổi từ 7 nội dung thành 13 nội dung Quản lý nhà nước về đất đai cho phù hợp với tình hình mới. Tại khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai 2003 quy định [7]: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; 2.
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; 3. Khảo sát, đo đạc, đánh, giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; 4. Quản lý kế hoạch, kế hoạch sử dụng đất; 5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; 6.
Đăng kí quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSD đất; 7. Thống kê, kiểm kê đất đai; 8. Quản lý tài chính về đất đai; 9. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; 10.
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; 5 11. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai; 12. Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; 13. Quản lý các hoạt động dịch vụ công tác đất đai (Luật đất đai, 2003).
Trong Luật đất đai 2013 (có hiệu lực từ 01/07/2014) ngoài 13 nội dung như luật đất đai 2003 còn có bổ sung thêm các nội dung sau đây: - Điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; - Xây dựng hệ thống thông tin đất đai; - Giám sát theo dõi đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; - Phổ biến giáo dục pháp luật về đất đai. Trong Luật đất đai 2003 và Luật đất đai 2013 nội dung cấp GCNQSD đất vẫn là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Cơ sở lý luận về cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính Đối với mỗi quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và quan trọng bậc nhất. Là cơ sở không gian của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Song thực tế đất đai có diện tích giới hạn, có vị trí cố định trong không gian. Cùng với thời gian giá trị sử dụng của tài nguyên đất có sự biến đổi tốt hay xấu phụ thuộc vào việc khai thác sử dụng và quản lý của con người. Do vậy đất đai cần được quản lý chặt chẽ. Đăng ký đất đai được hiểu là một thủ tục hành chính xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai với người sử dụng đất.
Nhằm thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ để Nhà nước 6 thống nhất quản lý đất đai theo pháp luật. GCNQSD đất được cấp cho những ai có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để xác lập địa vị pháp lý của họ trong việc sử dụng đất với nhà nước. Đăng ký đât đai là thủ tục hành chính mang tính bắt buộc đối với mọi người sử dụng đất. Công tác ĐKĐĐ và cấp GCN là nhiệm vụ quan trọng để xác định quyền sử dụng đất, quản lý biến động đất đai tạo lập cơ sở pháp lý cần thiết để người sử dụng đất và cơ quan quản lý đất thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
GCNQSD đất là một thành phần quan trọng trong hồ sơ địa chính, là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước – đại diện chủ sở hữu đất đai với người được nhà nước giao đất. Vì thế việc thực hiện công tác đăng ký, cấp GCN và lập hồ sơ địa chính đến từng thửa đất là nhiệm vụ không thể thiếu của tất cả mọi người khi tham gia sử dụng đất. Căn cứ pháp lý về cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính Đất đai là sản phẩm của tự nhiên và là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá có vai trò quan trọng đối với các ngành kinh tế quốc dân. Vấn đề đặt ra là cần phải sử dụng đầy đủ, hợp lý mang lại hiệu quả trên mọi lĩnh vực.
Việc sử dụng đất đai hợp lý có liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực, quyết định tới hiệu quả sản xuất và sự sống còn của vận mệnh quốc gia. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là nhiệm vụ hàng đầu. Năm 1980, Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý”. Công tác ĐKĐĐ, cấp GCN, lập hồ sơ địa chính được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo.Hiến pháp năm 1992 ra đời đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”.
7 Luật Đất đai năm 1993 được thông qua vào ngày 14/07/1993. Tiếp theo đó là Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 02/12/1998 và Quốc hội khoá X thông qua ngày 29/06/2001. Thông tư số 346/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thủ tục ĐKĐĐ, cấp GCN, lập hồ sơ địa chính.