Chương 1: Cơ sở khoa học về đánh giá công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện Chương 2: Thực trạng đánh giá công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Sa pa, tỉnh Lào Cai Chương 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới đánh giá công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp tác giả đã nghiên cứu, tham khảo và sử dụng nhiều tài liệu của các công trình nghiên cứu có liên quan đến nguồn nhân lực và đội ngũ công chức để tăng cƣờng tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu đóng góp vào chủ trƣơng phát triển kinh tế, xã hội của huyện Sa Pa. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Một số khái niệm cơ bản.Quan niệm về công chức. Công chức là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có những điểm khác nhau.
Nó phụ thuộc vào đặc điểm thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nƣớc, sự phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống và các yếu tố văn hóa lịch sử của từng giai đoạn lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia. * Khái niệm công chức của một số quốc gia trên thế giới: Ở Đức, công chức là nhân viên làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các xí nghiệp nhà nƣớc, công chức làm việc trong cơ quan chính phủ, nhân viên lao động công, giáo sƣ đại học, giáo viên trung học hay tiểu học… Ở Pháp, công chức là những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nƣớc, những ngƣời tham gia làm các dịch vụ công. Ở Nhật Bản, quan niệm công chức bao gồm cả công chức nhà nƣớc trung ƣơng và công chức địa phƣơng, có nghĩa là cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan chính quyền tự quản địa phƣơng cũng là công chức. Nhƣ vậy, có thể nhận thấy rằng, đặc điểm chung của công chức ở các quốc gia: Công chức là những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ chức danh công vụ nhất định và đƣợc trả công từ nguồn ngân sách nhà nƣớc.
* Khái niệm công chức ở Việt Nam Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành và phát triển theo tiến trình lịch sử, mỗi thời kỳ khác nhau có quan niệm khác nhau về công chức. 11 Công chức là một khái niệm đã xuất hiện lâu đời (vào cuối thế kỷ XIX). Ở Việt Nam, khái niệm công chức xuất hiện vào năm 1950, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 76/SL về việc ban hành Quy chế công chức vào ngày 20/5/1950. Theo đó, công chức đƣợc hiểu là: “Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nƣớc đều là công chức theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp do Chính phủ quy định”.
Sắc lệnh 76 quan niệm về cán bộ, công chức rất hẹp, chỉ bao gồm những ngƣời làm việc cho các cơ quan của Chính phủ. Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nƣớc nhà và ngay cả sau ngày đất nƣớc thống nhất (1975), nhà nƣớc ta thực hiện cơ chế nhân sự theo khối thuộc các nƣớc xã hội chủ nghĩa (XHCN) Liên Xô và Đông Âu. Tất cả những ngƣời làm việc trong cơ quan hành chính nhà nƣớc, cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh của nhà nƣớc đều đƣợc gọi chung là cán bộ công nhân viên chức. Theo quan điểm này thì khái niệm công chức không đƣợc xác định.
Cán bộ, công nhân viên là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, giao giữ một nhiệm vụ, trong biên chế nhà nƣớc và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, nhà nƣớc, lực lƣợng vũ trang, doanh nghiệp nhà nƣớc và các tổ chức xã hội mà nhà nƣớc cấp biên chế. Cán bộ và nhân viên trong thời kỳ này đƣợc phân biệt thông qua trình độ và tuyển dụng thông qua cơ chế xét tuyển. Những ngƣời có trình độ từ trung cấp trở lên gọi là cán bộ, còn lại những ngƣời có trình độ thấp hơn gọi là nhân viên. Từ khi đất nƣớc đổi mới, quan niệm về công chức đƣợc định hình lại.
Điều 1 Nghị định 169/1990/NĐ-HĐBT ngày 25/5/1991 về công chức nƣớc XHCN Việt Nam nêu: “Công chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch công chức, bậc công chức, đƣợc hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp”. 12 Khái niệm công chức đƣợc xác định tại Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1985, Nghị định này quy định cán bộ, công chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của nhà nƣớc ở trung ƣơng hay ở địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ở ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp. Ngày 26/2/1998, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức và đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2003. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh là công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Tuy nhiên, Pháp lệnh không đƣa ra giới hạn để phân biệt thế nào là cán bộ, thế nào là công chức; ai là cán bộ, ai là công chức. Hƣớng dẫn thi hành Pháp lệnh có nhiều văn bản của các cơ quan nhà nƣớc, trong đó có Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 và Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ trong các cơ quan nhà nƣớc. Qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung, ngày 9/12/2008 Quốc hội ban hành Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/2010 quy định cụ thể hơn về công chức, phân biệt, giải thích rõ cán bộ, công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh trong cơ quan Đảng Công sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Công sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc đảm bảo từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. 13 Nhƣ vậy, những văn bản trƣớc Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không định nghĩa công chức bằng việc nêu lên những đặc điểm mô tả thế nào là công chức.
Để xác định ai là công chức phải căn cứ vào sự liệt kê các đối tƣợng công chức. Để hƣớng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức, ngày 25/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP quy định những ngƣời là công chức. Theo Nghị định này, căn cứ để xác định công chức gồm: Là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội, trong Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nƣớc, trong các cơ quan Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ thành lập, trong các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, trong hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập. Năm 2014 Luật Cán bộ, công chức đƣợc sửa đổi, bổ sung và quy định tại khoản 2 điều 4 thì: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự 14 nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Bộ luật Lao động năm 2014.
Công chức đƣợc phân loại theo ngạch đƣợc bổ nhiệm vào vị trí công tác. Theo ngạch đƣợc bổ nhiệm gồm các loại công chức sau: + Công chức loại A gồm: những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tƣơng đƣơng. + Công chức loại B gồm: những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tƣơng đƣơng. + Công chức loại C gồm: những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tƣơng đƣơng.
+ Công chức loại D gồm: những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tƣơng đƣơng và ngạch chuyên viên. Theo vị trí công tác gồm có: Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (chỉ huy, điều hành) và công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (trực tiếp thực thi công việc).