phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1:Cơ sở pháp lý về đánh giá công chức của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng đánh giá công chức của Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá công chức của Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ĐÁNH GIÁCÔNGCHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái quát về công chức và công chức Ủy ban nhân dân cấp huyện 1.
Công chức Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia. Việc xác định công chức thường dựa vàocác yếu tố sau quyết định: hệ thống thể chế chính trị; hệ thống thể chế hành chính; yếu tố truyền thống; sự phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố văn hoá – xã hội khác. Ở nhiều quốc gia, để xác định là công chức thường căn cứ vào các tiêu chí chung là: - Là công dân của nước đó - Được tuyển dụng qua thi tuyển - Được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc - Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Phạm vi khái niệm công chức có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. theo nghĩa rộng, công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp hay các lực lượng vũ trang, công an.
Theo nghĩa hẹo, có những nước lại chỉ giới hạn những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Công chức là người làm việc trong bộ máy nhà nước. Cách tiếp cận này mở rộng đối tượng làm việc cho Nhà nước không chỉ trong các cơ quan thực thi quyền hành pháp mà cả các cơ quan quyền lực khác như lập pháp, tư pháp. Đồng thời cũng bao gồm cả những người trong các lực lượng vũ trang, công an.
Cách tiếp cận này không hạn chế cả những người làm việc thường xuyên, bầu cử cũng như những người làm công khác. 10 Công chức là người đại diện cho Nhà nước để thực thi quyền hành pháp. Cách tiếp cận này hạn chế nhóm người làm việc cho Nhà nước trong bộ máy hành pháp nhưng gắn liền với quyền lực hành pháp. Điều đó cũng có nghĩa là những người thực thi nhiệm vụ các loại công vụ mang tính dịch vụ không thuộc công chức.
ay nói khác đi, công chức chỉ những người có quyền đưa ra các quyết định quản lý hành chính nhà nước và triển khai thực hiện các quyết định đó. Cách tiếp cận này gắn liền với công vụ cho rằng tất cả những ai thực thi công vụ đều được gọi là công chức. Ở mô hình công vụ theo việc làm, phần lớn các vị trí đều tìm để thuê và bổ nhiệm những người có năng lực, khả năng. Công chức là những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển và được phân vào một ngành, ngạch, bậc trong cơ cấu thứ bậc của nền công vụ và được Nhà nước trả công.
Cách tiếp cận này cụ thể hơn và loại trừ những người làm việc thông qua bầu cử, cũng không tính đến những người làm việc có tính thường xuyên thông qua thi tuyển. Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm ai là công chức cũng đã có nhiều lần thay đổi. Sự hình thành khái niệm công chức được gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Theo quy định tại Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về quy chế công chức Việt Nam, công chức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính Phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Sau đó một thời gian dài, ở Việt Nam không tồn tại khái niệm “công chức” mà thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước chung chung, không phân biệt công chức và viên chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu 11 cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đ i hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ công chức nhà nước, khái niệm “công chức” được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/ ĐBT ngày 25/5/1991. Theo đó những người được coi là công chức phải đáp ứng được những điều kiện sau: (i) là công dân Việt Nam; (ii) được tuyển dụng và làm việc trong biên chế chính thức của nhà nước, (iii) được giao giữ một công vụ thường xuyên trong các công sở của Nhà nước, ở trung ương hay địa phương, ở trong hay ngoài nước; (iv) được xếp vào một ngạch. Pháp lệnh Cán bộ - công chức có đối tượng điều chỉnh chung là cán bộ, công chức.
Tất cả những người làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội đều được gọi chung là cán bộ, công chức. Tuy nhiên, có một nhóm đối tượng được phân loại với tên gọi là công chức. Để cụ thể hoá thuật ngữ công chức, Nghị định 117/2003/NĐ-CP quy định: Công chức nói tại Nghị định này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh; Cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sau đây: - Văn ph ng Quốc hội; - Văn ph ng Chủ tịch nước; - Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; - Tòa án nhân dân, Viện Kiểm soát nhân dân các cấp; - Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; - Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân; - Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. 12 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 ra đời (có hiệu lực từ 01/01/2010) quy định công chức: “là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Từ khái niệm công chức theo Luật Cán bộ, công chức 2008, có thể xác định một số đặc điểm như sau: Một, công chức là công dân Việt Nam. Theo Luật Quốc tịch, công dân Việt Nam là người mang quốc tịch Việt Nam. Quy định này xuất phát từ lý do an ninh chính trị quốc gia vì công chức là đội ngũ chiếm phần lớn trong bộ máy nhà nước. ai, nơi làm việc của công chức Việt Nam khá rộng so với cán bộ và viên chức.
Công chức làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc ph ng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập). 13 Ba là, công chức được xác định trong biên chế cơ quan nhà nước, có tính ổn định lâu dài, có chuyên môn nghiệp vụ rõ rệt. Đây cũng là điểm khác biệt so với cán bộ, tính chuyên môn nghiệp vụ không rõ rệt mà chủ yếu là tính chính trị; c n viên chức hiện nay không xác định chế độ biên chế mà theo chế độ hợp đồng. Bốn là, thu nhập của công chức được chi trả từ ngân sách nhà nước.
Đối với công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập c n nguồn chi trả từ quỹ của đơn vị sự nghiệp. Công chức của Ủy ban nhân dân cấp huyện Ủy ban nhân dân là một cơ quan hành chính nhà nước của hệ thống hành chính nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đây là cơ quan thực thi pháp luật tại các cấp tỉnh, huyện và xã. Các chức danh của Ủy ban nhân dân được Hội đồng nhân dân cấp tương ứng bầu ra và có nhiệm kỳ trùng với nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân.
Người đứng đầu Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, quyền hạn của Ủy ban nhân dân được quy định tại Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương. Ủy ban nhân dân các cấp có các cơ quan giúp việc như: Sở (cấp tỉnh), Phòng (cấp huyện). Nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp Huyện: Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp mình theo hướng dẫn của ủy ban nhân dân cấp trên; quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương theo phân cấp của ủy ban nhân dân. Công chức làm việc trong chính quyền cấphuyện bao gồm: Chánh Văn ph ng, Phó Chánh Văn ph ng và người làm việc trongVăn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dânhuyện, Chánh văn ph ng, Phó Chánh văn ph ng và người làm việc trong văn ph ng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhândân. 14 Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân.