Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các thuộc tính của chứng cứ 1. Khái niệm chứng cứ Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nêu rõ mục đích chính của tố tụng hình sự là “chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” [20, Điều 1]. Để phát hiện và xử lý chính xác tội phạm, việc chứng minh trong tố tụng hình sự nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Tố tụng hình sự của Nhà nước ta lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở của chứng cứ. Lý luận nhận thức khẳng định rằng: “Nhận thức là sự phản ánh biện chứng tích cực, trong thế giới khách quan thì không có gì con người không nhận thức được, chỉ có những điều chưa nhận thức được nhưng dần dần cũng sẽ nhận thức được”. Chính vì vậy, trong vụ án hình sự, dù người phạm tội có dùng mọi thủ đoạn tinh vi đến đâu để nhằm mục đích che dấu hành vi của mình thì tội phạm cũng được phản ánh lại bằng những dấu vết của nó, và trước sau dấu vết đó cũng bị phát hiện. Những dấu vết đó được phản ánh qua các thông tin, tài liệu phản ánh sự kiện phạm tội, phản ánh các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm và các yếu tố liên quan đến người phạm tội.
Hay nói cách khác, chứng cứ là phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh trong tố tụng hình sự. Với vai trò quan trọng như vậy trong hoạt động tố tụng, Bộ luật tố tụng hình sự đã đưa ra khái niệm về chứng cứ như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội cũng như tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án [20, Điều 64, Khoản 1]. Theo đó, dựa vào chứng cứ, sự thật khách quan mới được làm sáng tỏ, đồng thời loại bỏ những gì không có thật. Như vậy, chứng cứ là những thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, được xác định bằng các vật chứng, lời khai của những người tham gia tố tụng (nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo), các kết luận giám định, biên bản về hoạt động điều tra và xét xử, các tài liệu, đồ vật khác (theo khoản 2 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự).
Chứng cứ vụ án phải đảm bảo được thu thập một cách kịp thời, khách quan chẳng hạn việc xem xét hiện trường phải thể hiện được hiện trường còn nguyên vẹn hay không nguyên vẹn, việc khám xét, khám nghiệm không được bỏ sót dấu vết, đồ vật quan trọng liên quan đến vụ án, việc lấy dấu vết phải sử dụng các phương tiện kỹ thuật đảm bảo không bị biến dạng, phân huỷ,… và các chứng cứ này phải được thể hiện trên biên bản do người có thẩm quyền đứng ra thiết lập. Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tiếp nhận những tài liệu, đồ vật lời khai do các tổ chức, cá nhân cung cấp và phải thể hiện tài liệu xác định việc giao nhận, phản ánh; đồng thời phải chủ động tiến hành xác minh, điều tra, thu thập để làm rõ vụ án. Trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam, chứng cứ được phân loại thành dựa trên các tiêu chí khác nhau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Dựa trên giá trị chứng minh của chứng cứ thì chứng cứ được chia thành hai loại đó là: chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp; * Căn cứ vào ý nghĩa pháp lý hình sự của chứng cứ gồm: chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội; * Căn cứ vào xuất xứ của thông tin, tư liệu thu thập được, chứng cứ được phân thành: chứng cứ gốc, chứng cứ thuật lại (hay còn gọi là chứng cứ sao chép). Các thuộc tính của chứng cứ Xuất phát từ khái niệm chứng cứ được nêu ra trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có thể thấy các thuộc tính cần và đủ cho chứng cứ gồm: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.
Thứ nhất, tính khách quan của chứng cứ: Đây là thuộc tính quan trọng của chứng cứ. Chứng cứ là những gì có thật, có nghĩa rằng chứng cứ là những thông tin, tài liệu, đồ vật tồn tại khách quan, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người, và những chứng cứ đó liên quan trực tiếp đến các tình tiết của vụ án đang được chứng minh. Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng chỉ cung cấp, thu thập, nghiên cứu chứng cứ chứ không tạo ra chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Tại Điều 66 của Bộ luật tố tụng hình sự, tính khách quan của chứng cứ còn được gọi là tính xác thực của chứng cứ.
Trong quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định một trong các nguồn của chứng cứ là lời khai của người tham gia tố tụng. Theo một số quan điểm cho rằng việc lấy chứng cứ là lời khai của người tham gia tố tụng dù ít hay nhiều đều bị ảnh hưởng của những yếu tố chủ quan, ý chí của người khai báo mà không thể phản ánh một cách chính xác những thông tin về tội phạm. Chính vì vậy các thông tin này không đảm bảo thuộc tính này của chứng cứ. Tuy vậy, về bản chất, việc cung cấp thông 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tin là khách quan và trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tố tụng, vì vậy các cơ quan này cũng đồng thời phải có trách nhiệm phối hợp việc điều tra và thu thập thông tin để xác định liệu thông tin đó có chính xác hay không.
Mọi thông tin, sự vật thu thập được dù tồn tại trên thực tế, nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị làm giả theo ý chí của chủ quan thì không còn mang tính khách quan. Và những thông tin, tài liệu đó cũng không thể là chứng cứ của vụ án. Thứ hai, tính liên quan của chứng cứ: Tính liên quan của chứng cứ được thể hiện ở mối liên hệ khách quan của các thông tin, tài liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định. Mối quan hệ này có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp.
Mối quan hệ trực tiếp ở đây được hiểu là việc chứng cứ được dùng làm căn cứ để giải quyết thực chất của vụ án, đó là những căn cứ quan trọng và chủ yếu để xác định hành vi phạm tội, người phạm tội, lỗi của người phạm tội, các tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với việc quyết định hình phạt,… Mối quan hệ gián tiếp là trong trường hợp thông tin, tài liệu đó không thể làm căn cứ để giải quyết thực chất vụ án, nhưng lại đóng góp một phần nhất định vào việc chứng minh phạm tội. Chẳng hạn lời khai của người làm chứng rằng vào thời điểm tội phạm xảy ra đã chứng kiến sự có mặt của người bị tạm giữ. Như vậy, dù việc nhìn thấy sự có mặt của người bị tạm giữ không có ý nghĩa trong việc quyết định liệu rằng người bị tam giữ có phải là người phạm tội hay không, nhưng lại đóng vai trò quan trọng đối với các cơ quan điều tra trong việc lập phương án điều tra làm sáng tỏ sự việc. Trong hoạt động tố tụng, cơ quan điều tra cũng như viện kiểm sát, toà án phải xem xét về tính liên quan của chứng cứ ở cả hai mối quan hệ này để xác định một thông tin, tài liệu hay đồ vật liệu có được coi là chứng cứ hay không.
Thứ ba, tính hợp pháp của chứng cứ: Đó là sự phù hợp với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ. Tính hợp pháp của chứng cứ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được thể hiện qua quá trình cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo trình tự của pháp luật quy định. Nó được thể hiện ở các mặt sau: * Chứng cứ được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của pháp luật. Theo khoản 2 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nguồn chứng cứ bao gồm: (i) vật chứng; (ii) lời khai của người tham gia tố tụng; (iii) Kết luận giám định; (iv) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.
Các nguồn này phải được lưu giữ bằng nguồn tương ứng xác định. Ví dụ: Kết quả giám định phải được thể hiện bằng văn bản, và trong trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người phải ghi riêng ý kiến của mình vào bản kết luận riêng (khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự 2003); các trường hợp kết quả giám định thể hiện bằng ghi âm hay thu hình hoặc bằng lời nói thì không được coi là chứng cứ. Trong khi đó, đối với lời khai của người tham gia tố tụng được thể hiện trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung hoặc biên bản phiên toà; tất cả lời khai thu thập được bằng cách ghi âm, ghi hình thì không được coi là chứng cứ. * Chứng cứ phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Tùy thuộc vào tính chất đặc điểm của chứng cứ mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ để nhằm đảm bảo được tính khách quan và giá trị chứng minh của chứng cứ. Ví dụ: Điều 67 quy định lời khai của người làm chứng “không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người bị hại trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao họ biết được tình tiết đó”. Hay đối với trường hợp quy định về việc thu thập và bảo quản vật chứng, thì vật chứng phải được mô tả đúng thực trạng và được đưa vào hồ sơ vụ án (Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự).