CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ 1. Những vấn đề lý luận về kiểm tra, đánh giá chứng cứ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá chứng cứ 1. Khái niệm về kiểm tra, đánh giá chứng cứ Để có cơ sở làm rõ khái niệm kiểm tra, đánh giá chứng cứ, trước hết cần khái quát một số vấn đề nhận thức về chứng cứ trong tố tụng hình sự.
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì con người có thể nhận thức các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Nhiệm vụ của nhận thức là đạt đến chân lý, nghĩa là đạt đến sự phản ánh đúng đắn những sự vật, hiện tượng trong tự nhiên. Người phạm tội khi thực hiện tội phạm đều để lại những dấu hiệu, đặc điểm trong ý thức của con người (thủ phạm, nạn nhân, người biết việc) và trong môi trường xung quanh (hiện trường, nạn nhân…). Nhiệm vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng là phải nhận thức được đầy đủ các dấu hiệu, đặc điểm mà tội phạm để lại, để có thể dựng lại bức tranh tội phạm đã xảy ra trong quá khứ.
Những gì (thông tin) có ý nghĩa chứng minh các vấn đề của vụ án được coi là chứng cứ. Theo nghĩa phổ thông, từ điển Tiếng Việt giải thích: “Chứng cứ là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì đó là có thật”1. Khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam có nhiều quan điểm về khái niệm chứng cứ. Theo tác giả Nguyễn Văn Cừ “Chứng cứ là những cái có thật mang những thông tin xác thực về sự kiện thực tế có liên quan đến vụ án hình sự, được thu thập theo trình tự do Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà cơ quan và người có thẩm quyền tố tụng hình sự dùng để làm sáng tỏ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự”2.
Tác giả Trần Quang Tiệp thì cho rằng “Chứng cứ trong vụ án hình sự là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng 1 Từ điển Tiếng Việt, http://tratu.vn/dict/vn_vn/Ch%E1%BB%A9ng_c%E1%BB%A9, truy cập ngày 03/7/2021. 2 Nguyễn Văn Cừ (2005), Chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp Hà Nội, tr. Theo quan điểm của tác giả Đỗ Văn Đương thì “Chứng cứ trong vụ án hình sự là những thông tin xác thực về những gì có thật liên quan đến hành vi phạm tội được ghi nhận hoặc lưu giữ trong các tài liệu thực tế, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà những người và cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án”4. Các quan điểm trên, tuy cách trình bày có khác nhau nhưng trên cơ sở pháp luật tố tụng hình sự, đều thống nhất chứng cứ có các thuộc tính: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.
Việc ghi nhận tính khách quan của chứng cứ như BLTTHS năm 2015 (Điều 86) là “những gì có thật”, theo quan điểm của chúng tôi nhà làm luật đã đưa ra khái niệm có ngoại diên vô hạn. Làm cho việc xác định chứng cứ khó khăn và không chính xác, gây nên sự nhận thức không thống nhất khi xác định cái gì là chứng cứ. Ví dụ, con dao dính máu được thu thập tại hiện trường theo đúng trình tự, thủ tục mà BLTTHS quy định thì cũng được xác định là “có thật”. Tuy nhiên con dao là nguồn chứng cứ chứ không phải chứng cứ, chứng cứ là những thông tin về vết máu lưu lại trên con dao mà phải tiến hành giám định mới có thể khẳng định được những thông tin đó có liên quan hay không liên quan đến vụ án.
Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 vẫn chưa đưa dấu hiệu nguồn chứng cứ trong khái niệm chứng cứ. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: “Chứng cứ là những thông tin về những gì có thật, được rút ra từ nguồn chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ xác định có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Khái niệm kiểm tra chứng cứ: Lịch sử tố tụng hình sự chưa ghi nhận khái niệm kiểm tra chứng cứ, tuy nhiên nội dung kiểm tra chứng cứ đã được đề cập tại Điều 66 BLTTHS năm 2003 bằng cụm từ “để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan”. BLTTHS năm 2015 chính thức ghi nhận hoạt động kiểm tra chứng cứ tại Điều 108, tuy nhiên không nói rõ là hoạt động nào, mà chỉ đơn giản đặt từ “kiểm tra” bên cạnh từ “đánh giá”.
Về nội dung thì vẫn giữ nguyên cụm từ “để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên 3 Trần Quang Tiệp (2009), Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr. 4 Đỗ Văn Đương (2011), Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr. 6 quan” đây là các thuộc tính của chứng cứ, vậy có thể hiểu đây là hoạt động kiểm tra chứng cứ. Việc quy định này không như kiểu định nghĩa hay khái niệm, mà chỉ đơn giản là xác định mục đích của việc kiểm tra chứng cứ để xác định tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan.
Khoa học luật tố tụng hình sự thì khái niệm này đã được nghiên cứu rất nhiều. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “kiểm tra là tra xét kỹ lưỡng xem có đúng hay không”5. Theo tác giả Trần Quang Tiệp thì “Kiểm tra chứng cứ được hiểu là việc xác định thông tin thu thập được có đáp ứng đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ hay không, có phải là chứng cứ trong vụ án hình sự không? Kiểm tra chứng cứ xác định mức độ phản ánh chính xác của chứng cứ về những vấn đề phải chứng minh, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”6. Tác giả Lương Hải Yến thì cho rằng “Hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hoạt động tư duy của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thông qua việc đối chiếu, xem xét, xác định tính khách quan, liên quan và hợp pháp của chứng cứ đối với vụ án, qua đó làm rõ sự việc phạm tội xảy ra hay không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”7.
Theo chúng tôi, các tác giả chưa có sự phân biệt rõ giữa kiểm tra chứng cứ và đánh giá chứng cứ. Tác giả Trần Quang Tiệp nêu quan điểm chưa thuyết phục khi khẳng định “Kiểm tra chứng cứ xác định mức độ phản ánh chính xác của chứng cứ về những vấn đề phải chứng minh…” tức là xác định giá trị chứng minh của chứng cứ. Đây là nội dung đánh giá chứng cứ chứ không phải kiểm tra chứng cứ. Tác giả Lương Hải Yến tiếp cận khái niệm tương đối đầy đủ khi xác định là hoạt động tư duy của các chủ thể có nghĩa vụ được thực hiện theo quy định của BLTTHS; biện pháp kiểm tra là đối chiếu, xem xét.
Tuy nhiên tác giả cũng chưa phân biệt rõ giữa kiểm tra và đánh giá chứng cứ khi khẳng định “qua đó làm rõ sự việc phạm tội xảy ra hay không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội…”, đó cũng là nội dung đánh giá chứng cứ chứ không phải kiểm tra chứng cứ. Ngoài ra, tác giả còn xác định mục đích kiểm tra chứng cứ là “giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”. Như vậy, sẽ trùng với mục đích của quá trình chứng minh, cũng là mục đích chung của quá trình tố 5 Từ điển Tiếng Việt, https://vtudien.com/viet-viet/dichticnary/nghia-cua-tu-ki%BB%83m%20tra, truy cập ngày 03/7/2021. 6 Trần Quang Tiệp (2009), tlđd (3), tr.
7 Lương Hải Yến (2018), “Một số vấn đề về hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1 (kỳ I tháng 1), tr. Theo chúng tôi, mục đích kiểm tra chứng cứ là chỉ nhằm xác định đó có phải chứng cứ hay không. Theo tác giả Nguyễn Văn Cừ thì “Các tài liệu đã thu được qua khâu thu thập chứng cứ chưa thể coi là chứng cứ được. Do đó, mặc dù gọi là kiểm tra chứng cứ nhưng thực chất là kiểm tra các tài liệu thu được xem có thực sự là chứng cứ hay không? Vì vậy, mọi tài liệu thu được đều phải tiến hành kiểm tra.
Chỉ sau khi kiểm tra các tài liệu đó và kết quả kiểm tra xác định rằng tài liệu đó thỏa mãn các thuộc tính của chứng cứ, khi đó, các tài liệu thu được mới thực sự trở thành chứng cứ và làm cơ sở cho việc ra quyết định xử lý vụ án hình sự”8. Tác giả Nguyễn Văn Cừ xác định nội hàm của hoạt động kiểm tra quá hẹp khi cho rằng kiểm tra chứng cứ “là kiểm tra các tài liệu” mà bỏ qua các nguồn chứng cứ khác như vật chứng…và vô tình đồng nhất kiểm tra chứng cứ là kiểm tra nguồn chứng cứ. Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “Kiểm tra chứng cứ là giai đoạn tiếp theo của quá trình chứng minh. Việc kiểm tra chứng cứ nhằm xác định lại thông tin, tài liệu thu thập được thỏa mãn các thuộc tính của nó là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp hay không? Vì vậy, tất cả các chứng cứ thu thập được trong vụ án hình sự phải được chủ thể chứng minh kiểm tra một cách khách quan, toàn diện và kỹ lưỡng”9.
Còn theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thì “Kiểm tra chứng cứ là hoạt động xem xét, phân tích các tình tiết, tài liệu, đồ vật đã thu thập được có đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ hay không”10. Các quan điểm trên, tuy có sự diễn đạt khác nhau về khái niệm kiểm tra chứng cứ do tiếp cận ở những góc độ khác nhau, nhưng đều có điểm chung: kiểm tra chứng cứ là kiểm tra tính khách quan, liên quan và hợp pháp.