Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Những vấn đề lý luận về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu. Quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay.
Yêu cầu và giải pháp bảo đảm thi hành đúng quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu Về khái niệm chứng cứ trong tố tụng hình sự: Nguyễn Văn Du trong bài Khái niệm chứng cứ trong tố tụng hình sự: Nhìn từ góc độ lịch sử và luật so sánh đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2005 đã nêu khái quát tố tụng buộc tội (tố cáo) xuất hiện trong th i kỳ lịch sử cổ đại, phản ánh đậm nét ở Luật tố tụng La Mã. Trong hình thức tố tụng này thì quan niệm về chứng cứ không phải là những sự kiện, tình tiết nhằm để chứng minh chân lý theo đúng nghĩa mà là niềm tin của quan tòa vào tính đúng đắn hoặc hợp lý của một ngư i nào đó tham gia cuộc tranh luận tại công đư ng.
Đỗ Văn Đương trong Luận án Tiến sĩ Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra VAHS cho rằng: Chứng cứ là những thông tin xác thực về những gì có thật liên quan đến hành vi phạm tội, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà những ngư i và cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án. Vương Văn Bép trong Luận án Tiến sĩ Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam đã đưa ra khái niệm: Chứng cứ trong tố tụng hình sự là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà CQĐT, VKS và TA dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, ngư i thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết khác cho việc giải quyết đúng đắn và chính xác VAHS. Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm chứng cứ trong tố tụng hình của một số nước trên thế giới, tác giả Ngô Văn Vịnh đề xuất khái niệm chứng cứ như sau: Chứng cứ là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà CQĐT, VKS và TA dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm tội, ngư i thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án [115]. Với cách tiếp cận của triết học: Chứng cứ là phương tiện để xác định chân lí, chứng cứ không tạo ra chân lí, không biến chân lí thành phi lí hay ngược lại, bởi vì chân lí hay phi lí là ở chỗ sự việc có phù hợp với thực tế khách quan hay không [37].
Nghiên cứu về khái niệm chứng cứ trong tố tụng hình sự, còn một số bài viết, công trình khác có liên quan và đều thống nhất cách tiếp cận khái niệm chứng cứ đã được quy định tại khoản 1 Điều 64 BLTTHS năm 2003. Hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong xét xử vụ án hình sự: TS. Hoàng Thị Minh Sơn trong bài viết Hoàn thiện các quy định về thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự đã khái quát quá trình giải quyết VAHS phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, tuy nhiên ở giai đoạn nào các chủ thể cũng phải sử dụng những phương tiện để làm sáng tỏ bốn vấn đề cần phải chứng minh. Trong giai đoạn xét xử, đối với hoạt động thu thập chứng cứ TA thư ng dựa vào các chứng cứ được thu thập ở giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố.
Đối với hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa là chủ thể chứng minh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử để ra một trong các quyết định. Tại phiên tòa, HĐXX mà trực tiếp là Thẩm phán và Hội thẩm sử dụng chứng cứ để xét hỏi tại phiên tòa nhằm làm rõ những vấn đề thuộc về đối tượng chứng minh trong vụ án [75]. Vương Văn Bép trong Luận án Tiến sĩ Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam cho rằng quá trình chứng minh trong VAHS thì chứng cứ luôn luôn được coi là phương tiện để chứng minh, vì vậy các giai đoạn thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để sử dụng là hết sức quan trọng. Trong giai đoạn xét xử, TA phải trực tiếp điều tra công khai tại phiên tòa và làm sáng tỏ những vấn đề cần phải chứng minh trong VAHS bằng các chứng cứ được xác định tại phiên tòa.
HĐXX chỉ ra bản án, quyết định trên cơ sở pháp lý là những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa [17]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Văn Du trong Luận án Tiến sĩ Quá trình chứng minh VAHS ở nước ta đã khẳng định: Chứng cứ là phương tiện chứng minh duy nhất của các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình chứng minh trong VAHS, vì vậy đòi hỏi những ngư i tiến hành tố tụng phải hiểu rõ và phải áp dụng chính xác việc thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ nhằm sử dụng chứng cứ phục vụ cho hoạt động chứng minh trong VAHS [28]. Về dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu: Đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về dấu hiệu pháp lý của nhóm tội XPSH. Nhóm Luận án, luận văn nghiên cứu đến dấu hiệu pháp lý của nhóm tội XPSH có thể kể đến Nguyễn Ngọc Chí trong Luận án Tiến sĩ Trách nhiệm hình sự đối với các tội XPSH.
Đặng Quang Dũng trong Luận văn Thạc sĩ Các tội XPSH có tính chiếm đoạt trong Luật hình sự Việt Nam. Nghiên cứu theo địa phương cụ thể có thể kể đến luận văn thạc sĩ Định tội danh đối với các tội XPSH theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh của Lê Hoàng Tấn; luận văn thạc sĩ Phòng ngừa các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Gia Lai của Võ Văn Quảng; luận văn thạc sĩ Định tội danh đối với nhóm tội XPSH tại tỉnh Bình Định giai đoạn 2006-2010 của Trần Thị Phư ng; luận văn thạc sĩ Các tội XPSH do nữ thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: tình hình, nguyên nhân và giải pháp của Phan Đình Vui. Các công trình này, đều tiếp cận nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của nhóm tội XPSH theo các yếu tố cấu thành tội phạm. Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Trư ng Giang trong bài viết Dấu hiệu pháp lý và cách phân loại các tội XPSH theo BLHS 2015 đã phân tích dấu hiệu pháp lý của các tội XPSH.
Theo đó, khách thể của các tội XPSH: Các tội phạm này xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản, làm mất đi quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản. Tùy theo từng tội phạm cụ thể mà có thể làm mất đi một hoặc cả ba quyền năng nêu trên; mặt khách quan của các tội XPSH: thể hiện ở các dạng sau đây: hành vi chiếm đoạt tài sản, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản, hành vi sử dụng trái phép, hành vi hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, lãng phí tài 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản; mặt chủ quan của các tội XPSH: Đa số các tội XPSH được thực hiện do lỗi cố ý. Mục đích và động cơ phạm tội có thể là vụ lợi nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm; chủ thể của các tội XPSH: Các tội phạm XPSH đều do các chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Tác giả phân loại các tội XPSH thành 3 nhóm: các tội phạm có tính chất chiếm đoạt gồm 8 tội danh, các tội không có tính chất chiếm đoạt gồm 2 tội danh; các tội không có tính vụ lợi, không chiếm đoạt gồm 3 tội danh [152].
Tình hình nghiên cứu thực trạng thi hành các quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu Dự án điều tra cơ bản Thực trạng thi hành BLHS năm 1999 nhằm sửa đổi toàn diện BLHS 1999 trong thời gian tới đã đánh giá: Nhóm các tội XPSH đứng thứ hai trong nhóm các tội phạm thư ng xuyên xảy ra. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm sở hữu có xu hướng tăng nhanh trong giai đoạn những năm gần đây là do tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn, nạn thất nghiệp ở mức cao, các tệ nạn xã hội phát triển… Quá trình thi hành BLHS về nhóm tội phạm XPSH và công tác xét xử đã bộc lộ những bất cập, vướng mắc như sau: Thứ nhất, vướng mắc chủ yếu trong công tác xét xử các tội XPSH là việc xác định hành vi khách quan, thủ đoạn phạm tội để phân biệt tội danh. Xác định tội danh không đúng do không phân biệt được hoặc nhầm lẫn là một thiếu sót của công tác xét xử loại tội phạm này. Các Thẩm phán thư ng nhầm lẫn giữa lừa đảo chiếm đoạt tài sản với lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, giữa cướp tài sản với cướp giật tài sản, giữa cướp giật tài sản với công nhiên chiếm đoạt tài sản, giữa bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với mua bán ngư i… Thứ hai, về định giá tài sản, việc thẩm định giá tài sản cũng rất phức tạp, đặc biệt trong những trư ng hợp mà dấp dính giữa định lượng tài sản với việc có tội hay không có tội.
Thứ ba, vẫn còn tình trạng lúng túng, chưa thống nhất khi xác định một số tình tiết định khung tăng nặng lại là dấu hiệu cấu thành một số tội khác.