Đánh Giá Chức Năng Tai Giữa Trên Bệnh Nhân Khe Hở Vòm Miệng

Luận án tiến sỹ y học đánh giá chức năng tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng, cung cấp thông tin quan trọng về sức khỏe tai mũi họng.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Tai - Mũi - Họng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sỹ Y Học

2022

204
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lịch sử nghiên cứu

1.2. Nghiên cứu về chức năng tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng

1.3. Nghiên cứu về phẫu thuật đặt ống thông khí trên bệnh nhân khe hở vòm miệng

1.4. Giải phẫu, chức năng tai giữa và vòm miệng

1.4.1. Giải phẫu tai giữa

1.4.2. Giải phẫu vòm miệng

1.5. Sinh lý tai giữa

1.6. Một số phương pháp đánh giá chức năng tai giữa

1.6.1. Các phương pháp dựa trên đo trở kháng âm học

1.6.2. Đo thính lực đơn âm tại ngưỡng

1.7. Khe hở vòm miệng

1.7.1. Bệnh sinh khe hở vòm miệng

1.7.2. Phân loại khe hở vòm miệng

1.7.3. Các biểu hiện lâm sàng

1.7.4. Điều trị khe hở vòm miệng

1.8. Bệnh lý tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng

1.8.1. Cơ chế bệnh sinh bệnh lý tai giữa trên khe hở vòm miệng

1.8.2. Đặc điểm bệnh lý tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng

1.8.3. Điều trị bệnh lý tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng

1.8.3.1. Điều trị nội khoa
1.8.3.2. Phẫu thuật đặt ống thông khí hòm nhĩ
1.8.3.3. Vai trò của phẫu thuật tạo hình vòm miệng

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Các bước tuyển chọn vào nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Số lượng bệnh nhân nghiên cứu

2.5.3. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.5.4. Các chỉ số biến số nghiên cứu

2.5.5. Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

2.5.6. Phương tiện nghiên cứu

2.5.7. Phương pháp xử lý số liệu

2.5.8. Biện pháp khống chế sai số

2.6. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Chức năng tai giữa qua nội soi, thính lực và nhĩ lượng

3.1.1. Đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm bệnh lý tai giữa

3.3. Đánh giá chức năng tai giữa qua đo nhĩ lượng

3.4. Đánh giá chức năng tai giữa qua thính lực

3.5. Sự cải thiện chức năng tai giữa sau phẫu thuật tạo hình vòm miệng và đặt ống thông khí

3.5.1. Đặc điểm bệnh nhân phẫu thuật tạo hình vòm miệng và đặt ống thông khí hòm nhĩ

3.5.2. Bệnh lý tai giữa sau phẫu thuật tạo hình vòm miệng và đặt ống thông khí

3.5.3. Chức năng tai giữa sau phẫu thuật

3.5.4. Biến chứng sau phẫu thuật

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Chức năng tai giữa qua nội soi, thính lực và nhĩ lượng

4.1.1. Đặc điểm chung

4.1.2. Đặc điểm bệnh lý tai giữa

4.1.3. Đánh giá chức năng tai giữa qua nhĩ lượng

4.1.4. Đánh giá chức năng tai giữa qua thính lực

4.2. Sự cải thiện chức năng tai giữa sau phẫu thuật tạo hình vòm miệng và đặt ống thông khí

4.2.1. Đặc điểm chung

4.2.2. Bệnh lý tai giữa sau phẫu thuật tạo hình vòm miệng và đặt ống thông khí

4.2.3. Chức năng tai giữa sau phẫu thuật

4.2.4. Biến chứng sau phẫu thuật

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Chức Năng Tai Giữa Ở Bệnh Nhân Khe Hở Vòm Miệng

Chức năng tai giữa đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức nghe và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đặc biệt, ở những bệnh nhân mắc khe hở vòm miệng, chức năng này thường bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá chức năng tai giữa ở nhóm bệnh nhân này, từ đó đưa ra các giải pháp điều trị hiệu quả.

1.1. Ảnh Hưởng Của Khe Hở Vòm Miệng Đến Chức Năng Tai Giữa

Khe hở vòm miệng gây ra nhiều vấn đề về chức năng tai giữa, dẫn đến tình trạng viêm tai giữa và nghe kém. Theo nghiên cứu, tỷ lệ bệnh lý tai giữa ở trẻ em có khe hở vòm miệng lên tới 94%. Việc hiểu rõ mối liên hệ này là rất cần thiết để có phương pháp điều trị phù hợp.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Đánh Giá Chức Năng Tai Giữa

Đánh giá chức năng tai giữa giúp phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến sức nghe. Các phương pháp như nội soi, đo thính lực và nhĩ lượng được sử dụng để cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng tai giữa của bệnh nhân khe hở vòm miệng.

II. Vấn Đề Chức Năng Tai Giữa Ở Bệnh Nhân Khe Hở Vòm Miệng

Bệnh nhân khe hở vòm miệng thường gặp phải nhiều thách thức trong việc duy trì chức năng tai giữa. Việc rối loạn chức năng vòi nhĩ dẫn đến tình trạng viêm tai giữa mạn tính, ảnh hưởng đến sức nghe và phát triển ngôn ngữ của trẻ.

2.1. Các Thách Thức Trong Chẩn Đoán

Chẩn đoán bệnh lý tai giữa ở bệnh nhân khe hở vòm miệng thường gặp khó khăn do các triệu chứng không rõ ràng. Việc kết hợp nhiều phương pháp chẩn đoán là cần thiết để có kết quả chính xác.

2.2. Tác Động Của Viêm Tai Giữa Đến Sức Nghe

Viêm tai giữa có thể dẫn đến tình trạng nghe kém, ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và học tập của trẻ. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ viêm tai giữa ở trẻ khe hở vòm miệng rất cao, cần có biện pháp can thiệp kịp thời.

III. Phương Pháp Đánh Giá Chức Năng Tai Giữa Ở Bệnh Nhân Khe Hở Vòm Miệng

Để đánh giá chức năng tai giữa, nhiều phương pháp đã được áp dụng, bao gồm nội soi, đo thính lực và nhĩ lượng. Những phương pháp này giúp xác định tình trạng tai giữa và đưa ra hướng điều trị phù hợp.

3.1. Nội Soi Tai Giữa Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả

Nội soi tai giữa cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp tình trạng của tai giữa, từ đó đưa ra chẩn đoán chính xác hơn. Phương pháp này giúp phát hiện các bất thường như dịch trong hòm tai.

3.2. Đo Thính Lực Đánh Giá Khả Năng Nghe

Đo thính lực là một trong những phương pháp quan trọng để đánh giá chức năng nghe của bệnh nhân. Kết quả đo thính lực giúp xác định mức độ ảnh hưởng của bệnh lý tai giữa đến sức nghe.

IV. Giải Pháp Cải Thiện Chức Năng Tai Giữa Ở Bệnh Nhân Khe Hở Vòm Miệng

Các giải pháp điều trị như phẫu thuật tạo hình vòm miệng và đặt ống thông khí hòm nhĩ đã được áp dụng để cải thiện chức năng tai giữa. Những phương pháp này giúp giảm thiểu biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

4.1. Phẫu Thuật Tạo Hình Vòm Miệng Giải Pháp Hiệu Quả

Phẫu thuật tạo hình vòm miệng giúp cải thiện chức năng vòi nhĩ, từ đó giảm thiểu tình trạng viêm tai giữa. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ viêm tai giữa giảm đáng kể sau phẫu thuật.

4.2. Đặt Ống Thông Khí Giải Pháp Hỗ Trợ Chức Năng Tai Giữa

Đặt ống thông khí hòm nhĩ giúp thông khí và dẫn lưu dịch trong hòm tai, cải thiện sức nghe cho bệnh nhân. Phương pháp này được khuyến cáo thực hiện sớm để ngăn ngừa biến chứng.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Về Chức Năng Tai Giữa Ở Bệnh Nhân Khe Hở Vòm Miệng

Kết quả nghiên cứu cho thấy chức năng tai giữa của bệnh nhân khe hở vòm miệng có sự cải thiện rõ rệt sau khi áp dụng các phương pháp điều trị. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của việc đánh giá và can thiệp kịp thời.

5.1. Cải Thiện Chức Năng Nghe Sau Điều Trị

Nghiên cứu cho thấy sức nghe của bệnh nhân được cải thiện đáng kể sau khi thực hiện phẫu thuật và đặt ống thông khí. Điều này cho thấy hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện tại.

5.2. Giảm Tỷ Lệ Viêm Tai Giữa Sau Can Thiệp

Tỷ lệ viêm tai giữa ở bệnh nhân khe hở vòm miệng giảm rõ rệt sau khi áp dụng các biện pháp điều trị. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc theo dõi và can thiệp kịp thời.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Chức Năng Tai Giữa

Nghiên cứu về chức năng tai giữa ở bệnh nhân khe hở vòm miệng cần được tiếp tục mở rộng để tìm ra các phương pháp điều trị hiệu quả hơn. Việc kết hợp giữa các chuyên ngành sẽ giúp nâng cao chất lượng điều trị và cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân.

6.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Chức Năng Tai Giữa

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn cho bệnh nhân khe hở vòm miệng. Sự hợp tác giữa các chuyên ngành sẽ là chìa khóa để đạt được điều này.

6.2. Đề Xuất Các Hướng Nghiên Cứu Mới

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng tai giữa ở bệnh nhân khe hở vòm miệng. Việc này sẽ giúp xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ hơn và nâng cao hiệu quả điều trị.

22/07/2025
Luận án tiến sỹ y học đánh giá chức năng tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về chức năng tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng 1.1 Trên thế giới Năm 1897, Alt20 lần đầu tiên mô tả mối liên quan của KHVM với tình trạng nghe kém và bệnh lý tai giữa ở trẻ. Năm 1964, Graham21 nghiên cứu 190 bệnh nhân khe hở vòm miệng có hoặc không kết hợp khe hở môi (KHVM±M) thấy có 48,42% có tiền sử bệnh lý tai giữa, trong đó có 39,47% bị cả 2 tai. Năm 1969, Paradise22 thấy bệnh lý tai giữa xuất hiện ở những tháng đầu tiên ở tất cả trẻ KHVM. Năm 1972, Bluestone23 cho rằng những yếu tố như mở vòi nhĩ bất thường và doãng rộng của vòi dẫn đến tình trạng VTGƯD cao ở trẻ KHVM.

Năm 1975, Moller24 thấy tỷ lệ VTGƯD giảm đi khi trẻ lớn lên nhưng còn cao ở mức 13-49%. Năm 1981, Moller25 nghiên cứu 261 bệnh nhân KHVM thấy áp lực tai giữa thường giảm hơn -150 mmH2O, sức nghe dưới 20dB. Nhĩ đồ dạng B gặp ở 85% trường hợp bị VTGƯD. Năm 1987, Fria và cộng sự26 thấy trẻ em có KHVM nghe kém hơn so với trẻ không có KHVM.

Có tới 90-93% trẻ có nghe kém dẫn truyền. Năm 1996, Broen và cộng sự27 chứng minh nghe kém tiếp tục tồn tại ở trẻ vị thành niên có KHVM với tỷ lệ 20-39% bị nghe kém truyền âm. Năm 2018, Lou28 thấy THVM sớm giúp trẻ KHVM có chức năng tai giữa và sức nghe tốt hơn. Năm 2019, Tengroth29 thấy sức nghe của trẻ KHVM±M tương đương với trẻ bị VTGƯD không có KHVM.

Năm 2019, Jin30 nghiên cứu 30 trẻ KHVM không toàn bộ thấy tỷ lệ VTGƯD cải thiện 26% sau phẫu thuật THVM 6 tháng. Độ rộng của KHVM không có mối liên quan tới chức năng vòi nhĩ. Năm 2021, Acharya31 thực hiện một nghiên cứu thuần tập trên 60 trẻ KHVM thấy sau THVM 12 tháng có sự cải thiện chức năng vòi nhĩ, tình trạng ứ dịch tai giữa so với nhóm đối chứng.2 Tại Việt Nam Năm 1998, Nguyễn Thị Hoài An18 khám cho 170 trẻ KHVM±M và nhận thấy tỷ lệ trẻ bị VTGƯD lên tới 76,4%. Năm 2013, Nguyễn Đình Trường19 khảo sát về bệnh lý tai giữa trên 50 trẻ KHVM±M thấy 70% tai bị VTG.

Chủ yếu là VTGƯD với màng nhĩ phồng dày đục 55,5%, màu trắng đục 49,5%. Nhĩ đồ hình đồi và phẳng gặp 51,5%. Năm 2016, Nguyễn Văn Ninh và cộng sự32 nghiên cứu 93 bệnh nhân KHVM thấy tỷ lệ VTG ở nhóm chưa THVM là 91,0% cao hơn nhóm đã THVM là 73,8%. Chủ yếu gặp VTG màng nhĩ đóng kín.

Năm 2016, Đỗ Quý Linh33 nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng trẻ khe hở môi – vòm miệng có dấu hiệu VTGƯD thấy khe hở thứ phát đơn thuần gặp nhiều hơn loại khe hở tiên phát phối hợp khe hở thứ phát. Trong nhóm khe hở thứ phát, KHVM toàn bộ là hay gặp nhất (37,84%). Trong nhóm khe hở tiên phát và thứ phát hay gặp nhất loại khe hở thông suốt (68,97%). Năm 2019, Khiếu Hữu Thanh và cộng sự3 nghiên cứu 56 bệnh nhân KHVM bị VTGƯD được THVM mà không đặt OTK, sau phẫu thuật 6 tháng, tỷ lệ VTGƯD còn cao đến 85,7%.2 Nghiên cứu về phẫu thuật đặt ống thông khí trên bệnh nhân khe hở vòm miệng 1.1 Trên thế giới Năm 1860, Politzer34 là người đầu tiên sử dụng ống thông khí bằng cao su đặt qua màng nhĩ (MN) để thông khí lâu dài cho hòm tai.

Tuy nhiên nghiên cứu này thất bại do ống thông khí bị đào thải rất sớm. Năm 1954 Amstrong35 sử dụng một ống nhựa polyethylene đặt qua màng nhĩ để điều trị viêm tai giữa ứ dịch thấy duy trì hiệu quả tốt khi ống còn trên màng nhĩ và thông thoáng. Năm 1976, Paradise8 nghiên cứu 138 trẻ KHVM, khuyến cáo nên đặt OTK từ sớm ở trẻ KHVM. Trẻ đặt OTK cần được theo dõi định kỳ, đặt lại khi OTK rơi, điều trị nội khoa khi có biến chứng chảy tai.

Năm 2003, Zheng36 nghiên cứu 39 tai VTGƯD ở trẻ KHVM được phối hợp đặt OTK và THVM thấy 48,7% tai được cải thiện, sức nghe tăng 17dB sau phẫu thuật (PT) 6 tháng. Năm 2003, Sheahan37 thấy đặt OTK nâng cao khả năng nhận biết ngôn ngữ, giao tiếp của trẻ KHVM trong những năm đầu đời. Năm 2018, Rivelli38 thấy đặt OTK sớm ngay khi THVM giúp cải thiện sức nghe 14,2dB ở nhóm đặt ống chữ T và 19,4 dB ở nhóm ống suốt chỉ. Năm 2019, Yang39 thấy độ tuổi khi phẫu thuật THVM và tần xuất đặt OTK là những yếu tố có ảnh hưởng tới sức nghe của trẻ KHVM.

Năm 2019, Rieu-Chevreau40 theo dõi 98 trẻ được đặt OTK trên 123 trẻ THVM trong 104 tháng. Tác giả thấy thời gian lưu ống trên màng nhĩ là yếu tố nguy cơ cao nhất dẫn đến VTGƯD tái phát với OR=0,97, p=0,021. Năm 2020, Inoue và cộng sự41 thấy ở nhóm KHVM tỷ lệ đặt lại OTK là 31,1% cao hơn nhóm không bị KHVM, PTA trung bình sau phẫu thuật là 15,6dB so với 14,3dB của nhóm chứng. Năm 2021, Schwarz42 chứng minh mức độ và đặc điểm của KHVM không có liên quan tới tỷ lệ đặt OTK của trẻ KHVM.

Thậm chí, KHVM với phân độ Veau thấp hơn lại được đặt OTK thường xuyên hơn. Năm 2021, Martins43 thấy đặt OTK sàn ống tai cho trẻ KHVM có thời gian lưu ống lâu 76,3% sau 42 tháng. Phẫu thuật giúp cải thiện sức nghe và tình trạng xẹp nhĩ,. Biến chứng hay gặp là chảy tai (13,5%), tắc ống (7,7%).

Năm 2022, Chang44 nghiên cứu tổng quan trên 9 bài báo và 929 trẻ KHVM, thấy tỷ lệ tai không bị VTGƯD cao hơn ở nhóm có đặt OTK so với nhóm THVM đơn thuần (OR 3. Nghiên cứu cho thấy đặt OTK ngăn ngừa hiệu quả VTGƯD ở bệnh nhân KHVM và nên thực hiện đồng thời với phẫu thuật THVM.2 Tại Việt Nam Năm 1999, Đỗ Thành Chung45 đã nghiên cứu về kết quả điều trị viêm tai giữa ứ dịch ở viện Tai Mũi Họng. Năm 2001, Nguyễn Lệ Thủy46 nghiên cứu về chỉ định và kết quả đặt ống thông khí trong tắc vòi nhĩ tại viện Tai Mũi Họng từ 7/2000 – 10/2001 cho cả trẻ em và người lớn, thấy sức nghe cải thiện sau phẫu thuật là 14dB. Năm 2012, Mai Ý Thơ47 nghiên cứu về chỉ định và đánh giá kết quả của đặt ống thông khí qua màng nhĩ trong viêm tai tiết dịch ở trẻ em thấy trong nhóm PTA>30 dB trước phẫu thuật là 20/33 tai (60,6%) đã giảm xuống sau phẫu thuật là 2/25 tai sau 4 tháng (8%).

Năm 2013, Nguyễn Đình Trường19 khảo sát về phẫu thuật đặt OTK trên 50 trẻ KHVM±M ở cả nhóm đã THVM và chưa THVM với 70% tai bị VTG. Kết quả sau 3 tháng, 60% tai có màng nhĩ bình thường. Có 34,3% tai ứ dịch trở lại sau rơi ống thông khí ra ngoài cần đặt lại. Năm 2015, Châu Chiêu Hòa và cộng sự48 nghiên cứu đặt OTK điều trị viêm tai giữa ứ dịch ở trẻ em thấy thời gian khô tai trung bình là 2,3 tuần.

Năm 2016, Hoàng Phước Minh và Lê Thanh Thái49 đánh giá kết quả điều trị viêm tai giữa ứ dịch bằng phương pháp đặt ống thông khí thấy tỷ lệ chảy tai sau 6 tháng là 16/109 tai, tụt ống là 20/109 tai. Năm 2017, Nguyễn Văn Học50 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng viêm tai giữa tái diễn ở trẻ em sau đặt ống thông khí, thấy có 2/50 trẻ có KHVM. Năm 2019, Hoàng Văn Thành51 đặt OTK điều trị viêm tai giữa ứ dịch ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh thấy tỷ lệ màng nhĩ có màu sắc bình thường sau 3 tháng là 88,5%. Năm 2022, Tăng Xuân Hải52 nghiên cứu các yếu tố nguy cơ viêm tai giữa ứ dịch tái diễn ở trẻ em sau đặt ống thông khí tại Bệnh Viện Sản Nhi Nghệ An thấy 5,7% có dị tật khe hở hàm ếch.

Những nghiên cứu về bệnh lý tai giữa ở bệnh nhân KHVM tại Việt Nam trước đây chủ yếu mới mô tả về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng mà chưa có các biện pháp can thiệp. Các nghiên cứu về phẫu thuật đặt OTK được thực hiện chủ yếu ở các bệnh lý không liên quan đến KHVM. Tác giả Nguyễn Đình Trường 19 đã bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật đặt OTK cho trẻ KHVM±M nhưng cỡ mẫu chưa đủ lớn, đối tượng bao gồm cả nhóm tạo hình môi đơn thuần, thời gian theo dõi ngắn. Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng được một cơ sở dữ liệu đầy đủ hơn trong điều trị bệnh lý tai giữa ở bệnh nhân KHVM, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị bệnh lý KHVM một cách toàn diện.2 GIẢI PHẪU, CHỨC NĂNG TAI GIỮA VÀ VÒM MIỆNG 1.1 Giải phẫu tai giữa 1.1 Hòm nhĩ Hòm nhĩ: hình thấu kính 2 mặt lõm, gồm 6 thành.

Thành ngoài là màng nhĩ. Thành trong liên quan với tai trong. Thành trên có khớp trai đá ngăn cách tai giữa với hố não giữa. Thành dưới liên quan với nóc vịnh cảnh.

Thành trước thông với thành bên họng mũi bởi vòi tai. Thành sau thông với hệ thống thông bào xương chũm bởi sào đạo.53 Màng nhĩ: là một màng mỏng, dai chắc, ngăn cách ống tai ngoài và hòm nhĩ, gồm hai phần có cấu trúc khác nhau là màng căng và màng chùng. Màng căng nằm ở phía dưới hai dây chằng nhĩ búa, căng giữa rãnh nhĩ và cán xương búa, cấu tạo bởi ba lớp: lớp biểu bì, lớp sợi xơ và lớp niêm mạc. Màng chùng nằm trên các dây chằng nhĩ búa, có hình tam giác với đỉnh tương đương với mỏm ngoài của xương búa, bám vào khuyết Rivinus ở phía trên, tương đương với bờ dưới của tường thượng nhĩ.

Nó kém đàn hồi và dễ bị co kéo vì không có lớp sợi xơ như ở phần màng căng.2 Vòi nhĩ Vòi nhĩ (vòi Eustachian): là một ống xương sụn, nối liền thành trước hòm nhĩ với thành bên họng, trong đó 1/3 sau ngoài là xương, 2/3 trước trong được cấu tạo bởi sụn và xơ, nối với nhau ở eo vòi.54,55 Ở người lớn vòi nhĩ tạo một góc 30-40 độ với mặt phẳng ngang, chiều dài khoảng 31-38 mm, ở trẻ em góc khoảng 10 độ, dài khoảng 15-30mm.56,57 Phần xương của vòi nhĩ nằm hoàn toàn trong phần đá xương thái dương và liên tiếp với thành trước của hòm nhĩ. Phần xương bình thường luôn mở, phần sụn sợi đóng lại khi nghỉ và mở ra khi nuốt nước bọt hoặc khi mở bằng áp lực. Vòi nhĩ sụn: có hình lòng máng, lõm ở phía dưới, gồm 4–6 mảnh sụn riêng biệt, nối liền nhau bằng tổ chức xơ và xếp chồng lên nhau như ngói lợp.58 Lòng vòi chia làm 3 phần, tầng trên là vòm, tầng giữa hẹp hơn là cổ (eo vòi), tầng dưới là đáy có các nếp niêm mạc dọc nổi rõ hoặc xóa mở tùy theo vòi đóng hay mở.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ