Tổng quan luận án

Khe hở vòm miệng (KHVM) là một trong những dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt phổ biến, với tỷ lệ ghi nhận tại Việt Nam vào khoảng 0,1% đến 0,2%. Dị tật này không chỉ ảnh hưởng đến chức năng thẩm mỹ, phát âm và dinh dưỡng mà còn gây ra những biến đổi giải phẫu - sinh lý phức tạp tại vùng vòm mũi họng. Cụ thể, sự bất thường về nguyên ủy và bám tận của các cơ màn hầu (đặc biệt là cơ nâng màn hầu và cơ căng màn hầu) cùng tình trạng viêm nhiễm mạn tính do thức ăn trào ngược làm suy giảm nghiêm trọng chức năng vòi nhĩ, dẫn đến tỷ lệ mắc các bệnh lý tai giữa ở trẻ KHVM lên tới 94%.

Phần lớn các bệnh lý tai giữa ở nhóm bệnh nhân này diễn biến âm thầm dưới dạng viêm tai giữa màng nhĩ đóng kín, bao gồm viêm tai giữa ứ dịch (VTGƯD), viêm tai giữa cấp tính (VTGCT) tái diễn, xẹp nhĩ, túi co kéo, xơ nhĩ và nguy cơ tiến triển thành cholesteatoma. Tình trạng ứ dịch kéo dài gây nghe kém dẫn truyền trong giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ. Nhiều bằng chứng y văn cho thấy điều trị nội khoa đơn thuần không mang lại hiệu quả bền vững đối với tình trạng rối loạn chức năng vòi nhĩ ở bệnh nhân KHVM. Đồng thời, phẫu thuật tạo hình vòm miệng (THVM) dù đã phục hồi lại giải phẫu cơ màn hầu nhưng tỷ lệ VTG sau mổ vẫn ở mức cao (lên tới 85,7%). Việc can thiệp đặt ống thông khí (OTK) hòm nhĩ phối hợp đồng thời với phẫu thuật THVM được coi là giải pháp quan trọng nhằm phục hồi áp lực tai giữa và thính lực, song tại Việt Nam trước đây các nghiên cứu về chủ đề này còn hạn chế về quy mô mẫu, thời gian theo dõi và tính đồng bộ giữa các chuyên khoa.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Khiếu Hữu Thanh, thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lương Thị Minh Hương và TS. Nguyễn Đình Phúc, tập trung giải quyết vấn đề trên với hai mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá chức năng tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng qua nội soi, thính lực và nhĩ lượng.
  2. Đánh giá sự cải thiện chức năng tai giữa sau đặt ống thông khí và phẫu thuật tạo hình khe hở vòm miệng.
  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán khe hở vòm miệng (có hoặc không kèm khe hở môi).
  • Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cuba - Hà Nội, phối hợp với Bộ môn Tai Mũi Họng Trường Đại học Y Hà Nội và Bộ môn Tai Mũi Họng Trường Đại học Y Dược Thái Bình.
  • Thời gian hoàn thành: Luận án bảo vệ năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp có hệ thống lịch sử nghiên cứu về bệnh lý tai giữa và phẫu thuật đặt ống thông khí trên bệnh nhân khe hở vòm miệng trên thế giới và tại Việt Nam:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Nghiên cứu về chức năng tai giữa ở trẻ KHVM: Từ năm 1897, Alt là người đầu tiên mô tả mối liên quan giữa KHVM và bệnh lý tai giữa gây nghe kém. Năm 1964, Graham khảo sát 190 bệnh nhân KHVM có hoặc không kết hợp khe hở môi (KHVM±M), phát hiện 48,42% có tiền sử bệnh lý tai giữa và 39,47% bị cả hai tai. Paradise (1969) ghi nhận bệnh lý tai giữa xuất hiện từ những tháng đầu đời ở hầu hết trẻ KHVM. Bluestone (1972) chỉ ra cơ chế mở vòi nhĩ bất thường và vòi nhĩ quá mềm là nguyên nhân gây VTGƯD. Moller (1975, 1981) khảo sát 261 bệnh nhân, xác định áp lực tai giữa thường giảm dưới -150 mmH2O và nhĩ lượng đồ dạng B chiếm 85% các trường hợp VTGƯD. Fria và cộng sự (1987) ghi nhận 90-93% trẻ KHVM bị nghe kém dẫn truyền. Broen và cộng sự (1996) chỉ ra tình trạng nghe kém truyền âm vẫn tồn tại ở 20-39% trẻ vị thành niên KHVM. Gần đây, Lou (2018), Jin (2019), Tengroth (2019) và Acharya (2021) tiếp tục khẳng định vai trò của THVM và đánh giá sự phục hồi chức năng vòi nhĩ sau 6-12 tháng.
  • Nghiên cứu về phẫu thuật đặt ống thông khí: Politzer (1860) đặt nền móng đầu tiên cho ống thông khí bằng cao su; Amstrong (1954) sử dụng ống polyethylene qua màng nhĩ đạt hiệu quả duy trì thông khí. Paradise (1976) theo dõi 138 trẻ và khuyến cáo đặt OTK sớm cho trẻ KHVM. Zheng (2003) nghiên cứu 39 tai KHVM phối hợp THVM và đặt OTK, ghi nhận sức nghe tăng 17 dB sau 6 tháng. Rivelli (2018) so sánh ống chữ T (cải thiện 14,2 dB) và ống suốt chỉ (cải thiện 19,4 dB). Rieu-Chevreau (2019) theo dõi 98 trẻ trong 104 tháng, xác định thời gian lưu ống là yếu tố then chốt liên quan đến tái phát VTGƯD ($OR = 0,97; p = 0,021$). Martins (2021) ghi nhận đặt OTK sàn ống tai có tỷ lệ lưu ống 76,3% sau 42 tháng, biến chứng chảy tai 13,5% và tắc ống 7,7%. Chang (2022) phân tích tổng quan từ 9 nghiên cứu trên 929 trẻ KHVM khẳng định can thiệp đồng thời THVM và đặt OTK ngăn ngừa hiệu quả VTGƯD.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Nguyễn Thị Hoài An (1998) khám 170 trẻ KHVM±M, xác định tỷ lệ VTGƯD là 76,4%.
  • Nguyễn Đình Trường (2013) nghiên cứu 50 trẻ KHVM±M, ghi nhận 70% số tai mắc bệnh lý tai giữa (màng nhĩ phồng dày đục 55,5%, nhĩ đồ hình đồi và phẳng 51,5%), sau đặt OTK 3 tháng có 60% tai màng nhĩ trở về bình thường nhưng 34,3% tái phát sau khi ống rơi.
  • Nguyễn Văn Ninh và cộng sự (2016) trên 93 bệnh nhân KHVM ghi nhận tỷ lệ VTG ở nhóm chưa THVM là 91,0% và nhóm đã THVM là 73,8%.
  • Đỗ Quý Linh (2016) khảo sát đặc điểm lâm sàng VTGƯD ở trẻ khe hở môi - vòm miệng.
  • Khiếu Hữu Thanh và cộng sự (2019) ghi nhận ở 56 bệnh nhân THVM đơn thuần không đặt OTK, tỷ lệ VTGƯD sau 6 tháng vẫn tồn tại ở mức 85,7%.
  • Các tác giả Đỗ Thành Chung (1999), Nguyễn Lệ Thủy (2001), Mai Ý Thơ (2012), Châu Chiêu Hòa (2015), Hoàng Phước Minh - Lê Thanh Thái (2016), Nguyễn Văn Học (2017), Hoàng Văn Thành (2019), Tăng Xuân Hải (2022) nghiên cứu về đặt OTK và VTG tái diễn trên các nhóm đối tượng nhi khoa nói chung.

Khoảng trống nghiên cứu

Các công trình tại Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở mô tả cắt ngang, cỡ mẫu nhỏ hoặc nghiên cứu kỹ thuật đặt OTK trên đối tượng không có dị tật hàm mặt. Thiếu các nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc, đánh giá kết hợp toàn diện giữa hình thái nội soi, nhĩ lượng đồ và thính lực đồ trên nhóm trẻ KHVM được phẫu thuật tạo hình phối hợp đặt OTK hòm nhĩ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và giải phẫu - bệnh sinh

  • Giải phẫu hệ thống tai giữa và vòm miệng: Hòm nhĩ, hệ thống xương con và màng nhĩ (gồm màng căng cấu tạo 3 lớp và màng chùng cấu tạo 2 lớp, không có lớp xơ). Vòi nhĩ nối hòm nhĩ với họng mũi gồm 1/3 xương và 2/3 sụn xơ; ở trẻ em vòi nhĩ ngắn hơn (15-30 mm) và nằm ngang hơn (góc $10^\circ$) so với người lớn (31-38 mm, góc $30-40^\circ$).
  • Cơ chế hoạt động cơ vòi nhĩ: Cơ căng màn hầu (kéo mở lòng vòi nhĩ khi nuốt, ngáp), cơ nâng màn hầu (nâng nền vòi và đóng kín khẩu cái mềm), cơ vòi hầu và cơ căng màng nhĩ. Ở bệnh nhân KHVM, các cơ nâng và căng màn hầu không đan chéo tiếp nối qua đường giữa mà chạy dọc bám vào bờ sau xương khẩu cái, làm giảm trương lực mở vòi, dẫn đến tắc vòi cơ năng.
  • Thuyết nụ mặt và phân loại KHVM theo Kernahan (1971): Dựa trên sơ đồ chữ Y lấy lỗ răng cửa làm mốc phân định tổn thương tiên phát và thứ phát thành 4 nhóm hình thái chính (Dạng A, B, C, D).
  • Vòng xoắn bệnh lý tai giữa: Tắc vòi nhĩ $\rightarrow$ hấp thu khí liên tục qua niêm mạc tạo áp lực âm $\rightarrow$ thoát dịch mao mạch, tăng sinh tuyến chế tiết nhầy, liệt biểu mô lông chuyển $\rightarrow$ VTGƯD mạn tính $\rightarrow$ tiêu hủy lớp sợi màng nhĩ $\rightarrow$ xẹp nhĩ, túi co kéo, xơ nhĩ và viêm tai dính.
+-------------------------------------------------------------------------+
|                BẤT THƯỜNG BÁM TẬN CÁC CƠ MÀN HẦU                        |
|        (Cơ căng màn hầu & cơ nâng màn hầu bám sai vị trí)               |
+------------------------------------+------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-------------------------------------------------------------------------+
|                  RỐI LOẠN CHỨC NĂNG VÒI NHĨ (TẮC VÒI)                   |
+------------------------------------+------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-------------------------------------------------------------------------+
|              ÁP LỰC ÂM TRONG HÒM TAI & DỊ SẢN NIÊM MẠC                  |
|     (Thoát dịch mao mạch, tăng tiết nhầy, giảm thanh thải lông chuyển)   |
+------------------------------------+------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-------------------------------------------------------------------------+
|               VIÊM TAI GIỮA Ứ DỊCH MẠN TÍNH (VTGƯD)                     |
+------------------------------------+------------------------------------+
                                     |
       +-----------------------------+-----------------------------+
       |                                                           |
       v                                                           v
+-----------------------------------+     +-----------------------------------+
|  DIỄN BIẾN CẤP TÍNH:             |     |  DIỄN BIẾN MẠN TÍNH:              |
|  Bội nhiễm vi khuẩn ngược dòng    |     |  Tiêu hủy lớp sợi màng nhĩ        |
|  --> Viêm tai giữa cấp tái diễn  |     |  --> Xẹp nhĩ, túi co kéo          |
|      (VTGCT)                      |     |  --> Xơ nhĩ, Viêm tai dính        |
+-----------------------------------+     +-----------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp lâm sàng tiến cứu theo dõi dọc.
  • Cỡ mẫu và đối tượng: Gồm 106 bệnh nhân KHVM (tương ứng 212 tai) được khảo sát lâm sàng, trong đó 209 tai được thực hiện đo nhĩ lượng đồ và thính lực đồ. Nhóm can thiệp gồm các bệnh nhân có chỉ định được phẫu thuật tạo hình vòm miệng phối hợp đặt ống thông khí hòm nhĩ.
  • Phương tiện và kỹ thuật thu thập số liệu:
    • Nội soi tai mũi họng: Đánh giá hình thái màng nhĩ, màu sắc, độ xẹp nhĩ (theo phân loại 4 độ của Sade), dịch hòm nhĩ và các bệnh lý mũi họng kèm theo.
    • Đo nhĩ lượng: Sử dụng máy Interacoustics AT235 với âm đầu dò 226 Hz, dải áp lực từ -400 daPa đến +200 daPa. Phân loại kết quả theo hệ thống Jerger (A, As, Ad, B, C) và hệ thống biến động trục tung/hoành của Nguyễn Tấn Phong.
    • Đo thính lực đơn âm tại ngưỡng: Sử dụng máy Interacoustics AD226. Tùy lứa tuổi áp dụng kỹ thuật quan sát hành vi (BOA), tăng cường thị giác (VRA), đo thính lực bằng trò chơi (CPA) hoặc đo ấn nút chủ động. Xác định ngưỡng nghe trung bình đường khí (PTA) và khoảng cách khí - cốt đạo (Air-Bone Gap - ABG) ở các tần số 500, 1000, 2000, 4000 Hz.
    • Kỹ thuật can thiệp: Phẫu thuật THVM (kỹ thuật đẩy lùi V-Y của Veau-Wardill-Kilner hoặc Von Langenbeck kết hợp tạo hình cơ) đồng thời chích rạch màng nhĩ góc trước dưới/sau dưới và đặt ống thông khí.
  • Phương pháp xử lý số liệu và kiểm soát sai số: Phân tích thống kê y học bằng các thuật toán so sánh tỷ lệ, kiểm định mối liên quan giữa các biến số lâm sàng, nhĩ lượng và thính lực học trước - sau can thiệp. Đảm bảo các nguyên tắc đạo đức y sinh học được thông qua hội đồng thẩm định.
Danh mục phương tiện Model / Thông số kỹ thuật Ứng dụng trong nghiên cứu
Máy đo nhĩ lượng Interacoustics AT235 (Đầu dò 226 Hz, áp lực -400 đến +200 daPa) Đánh giá độ thông thuận, áp lực đỉnh hòm nhĩ, phân loại nhĩ đồ theo Jerger và Nguyễn Tấn Phong
Máy đo thính lực Interacoustics AD226 (Dải tần số 125 - 8000 Hz, cường độ 0 - 100 dB) Xác định ngưỡng nghe đơn âm đường khí (PTA), đường xương và khoảng cách khí cốt đạo (ABG)
Bộ dụng cụ nội soi Hệ thống nội soi Tai Mũi Họng kèm nguồn sáng và camera Quan sát chi tiết màng nhĩ, hình thái co kéo, màu sắc và dịch hòm tai
Bộ dụng cụ vi phẫu Kính hiển vi phẫu thuật tai và bộ vi phẫu đặt OTK Rạch màng nhĩ, hút dịch hòm tai và đặt ống thông khí

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này cung cấp hệ thống lý thuyết toàn diện bao gồm 6 phần nội dung chính:

  • 1.1 Lịch sử nghiên cứu: Điểm lại các cột mốc nghiên cứu trên thế giới từ cuối thế kỷ 19 đến các thử nghiệm can thiệp hiện đại của Paradise, Bluestone, Chang; tổng kết các nghiên cứu về bệnh lý tai giữa và OTK tại Việt Nam.
  • 1.2 Giải phẫu, chức năng tai giữa và vòm miệng: Chi tiết cấu trúc hòm nhĩ, 6 thành liên quan, màng nhĩ, hệ thống thông bào xương chũm; cấu trúc sụn - cơ của vòi nhĩ; giải phẫu vòm miệng cứng, vòm miệng mềm và các cơ màn hầu.
  • 1.3 Sinh lý tai giữa: Sinh lý truyền âm, hiện tượng trở kháng âm học, cơ chế trao đổi khí qua niêm mạc hòm tai; 3 chức năng của vòi nhĩ gồm thông khí cân bằng áp lực, dẫn lưu làm sạch và bảo vệ hòm tai.
  • 1.4 Một số phương pháp đánh giá chức năng tai giữa: Soi tai thông thường và bơm hơi; nguyên lý đo trở kháng âm học - đo nhĩ lượng (hệ thống Jerger và Nguyễn Tấn Phong); các nghiệm pháp đo chức năng vòi nhĩ chủ động/thụ động; nguyên lý đo âm lượng vòi (Sonotubometry); kỹ thuật đo thính lực đơn âm theo độ tuổi (BOA, VRA, CPA).
  • 1.5 Khe hở vòm miệng: Quá trình phôi thai học (thuyết nụ mặt), các bảng phân loại dị tật (trọng tâm là Kernahan); các biểu hiện bệnh lý đa cơ quan (dinh dưỡng, phát âm, biến dạng sọ mặt, tai mũi họng); các phương pháp phẫu thuật THVM (Von Langenbeck, đẩy sau kiểu V-Y của Veau-Wardill-Kilner, vạt Furlow).
  • 1.6 Bệnh lý tai giữa và điều trị trên bệnh nhân KHVM: Cơ chế bệnh sinh do loạn năng cơ vòi; đặc điểm các thể lâm sàng (VTGƯD, VTGCT tái diễn, xẹp nhĩ 4 độ theo Sade, xơ nhĩ, VTGMT); các phương pháp điều trị nội khoa, thông khí áp lực (Otovent, Valsalva, Politzer) và kỹ thuật đặt OTK hòm nhĩ.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương 2 mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu thực nghiệm:

  • Đối tượng và tiêu chuẩn lựa chọn: 106 bệnh nhân KHVM với 212 tai được tuyển chọn vào nghiên cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cuba.
  • Phương pháp và biến số nghiên cứu: Thu thập các biến số nhân khẩu học (tuổi, giới), tiền sử bệnh lý tai mũi họng kèm theo; phân loại tổn thương khe hở theo Kernahan; đánh giá nội soi màng nhĩ (màu sắc, độ dày, độ lõm, mức độ xẹp nhĩ theo Sade); đánh giá nhĩ đồ (209 tai) theo Jerger và phân loại trục tung/hoành của Nguyễn Tấn Phong; đánh giá thính lực đồ (dạng nghe kém dẫn truyền/hỗn hợp, chỉ số PTA và khoảng ABG).
  • Kỹ thuật can thiệp và theo dõi sau phẫu thuật: Mô tả quy trình phẫu thuật tạo hình vòm miệng phối hợp trích rạch màng nhĩ đặt OTK; quy trình theo dõi lâm sàng, nội soi, nhĩ đồ, thính lực đồ sau mổ tại các mốc thời gian (đặc biệt mốc 6 tháng); ghi nhận các biến chứng (chảy tai, tụt ống, tắc ống, lỗ thủng tồn dư). Kiểm soát sai số và đạo đức nghiên cứu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thông qua 30 bảng số liệu và 6 biểu đồ, chia thành hai nhóm nội dung chính:

1. Đặc điểm chức năng tai giữa trước can thiệp (N = 106 bệnh nhân, 212 tai; 209 tai đo nhĩ lượng):

  • Phân bố chung: Tỷ lệ mắc bệnh lý tai giữa rất cao ở nhóm chưa can thiệp. Đa số tổn thương xuất hiện ở cả 2 tai. Các tổn thương màng nhĩ ghi nhận chủ yếu là dày đục, biến đổi màu sắc (trắng đục, vàng nhạt) và co kéo.
  • Cơ cấu bệnh lý tai giữa: Chiếm tỷ lệ cao nhất là viêm tai giữa ứ dịch, tiếp theo là viêm tai giữa cấp tái diễn, xẹp nhĩ (chủ yếu độ I và độ II theo Sade) và xơ nhĩ; viêm tai giữa mạn tính chiếm tỷ lệ thấp.
  • Kết quả nhĩ lượng đồ: Theo Jerger, dạng B (đường phẳng/không có đỉnh, phản ánh ứ dịch hòm tai) chiếm ưu thế áp đảo, tiếp đến là dạng C (áp lực âm) và dạng As; dạng A bình thường chiếm tỷ lệ nhỏ. Phân loại theo Nguyễn Tấn Phong thể hiện rõ các dạng nhĩ đồ biến động theo trục hoành (lệch trái do tắc vòi) và trục tung (giảm độ thông thuận). Có mối liên quan chặt chẽ giữa dạng nhĩ đồ với thể bệnh VTGƯD và mức độ xẹp nhĩ.
  • Kết quả thính lực đồ: Đa số bệnh nhân có biểu hiện nghe kém dẫn truyền từ mức độ nhẹ đến trung bình; chỉ số PTA trung bình tăng cao và khoảng cách khí - cốt đạo (ABG) giãn rộng so với giá trị bình thường (> 10 dB).
Chỉ số / Đặc điểm Trước can thiệp Sau can thiệp (6 tháng)
Hình thái màng nhĩ Dày đục, co kéo, đổi màu chiếm tỷ lệ chủ yếu Tỷ lệ màng nhĩ sáng bóng, giải phẫu hồi phục tăng rõ rệt
Nhĩ lượng đồ (theo Jerger) Chiếm ưu thế dạng B (ứ dịch) và dạng C (áp lực âm) Dạng B và C giảm mạnh; tỷ lệ nhĩ đồ thông khí tốt tăng
Thính lực đồ (PTA & ABG) Nghe kém dẫn truyền nhẹ - vừa; ABG giãn rộng (> 10 dB) PTA trung bình giảm rõ rệt; khoảng ABG thu hẹp
Tình trạng ứ dịch tai giữa Tỷ lệ ứ dịch cao kéo dài trước mổ Dẫn lưu dịch triệt để qua ống thông khí còn hoạt động

2. Kết quả sau phẫu thuật tạo hình vòm miệng và đặt ống thông khí:

  • Đánh giá kết quả THVM: Sau 6 tháng, phần lớn bệnh nhân liền sẹo tốt, đóng kín vòm miệng và phục hồi giải phẫu màn hầu.
  • Tình trạng dịch hòm nhĩ khi chích rạch: Ghi nhận tỷ lệ cao dịch keo hoặc dịch nhầy quánh, phù hợp với bệnh sinh tắc vòi mạn tính.
  • Diễn biến chức năng tai giữa sau mổ:
    • Màng nhĩ cải thiện độ trong và vị trí giải phẫu; mức độ xẹp nhĩ giảm.
    • Tình trạng ống thông khí: Đa số OTK duy trì vị trí và sự thông thoáng trên màng nhĩ trong thời gian theo dõi.
    • Nhĩ lượng đồ sau phẫu thuật: Chuyển biến tích cực, giảm tỷ lệ nhĩ đồ dạng B.
    • Sức nghe: Chỉ số PTA trung bình và khoảng cách ABG cải thiện rõ rệt, ngưỡng nghe đường khí tăng lên đáng kể sau 6 tháng can thiệp.
  • Biến chứng sau phẫu thuật: Ghi nhận tỷ lệ nhỏ bị chảy dịch qua ống thông khí, tụt/rơi ống sớm hoặc tắc lòng ống do chất tiết khô; các biến chứng được xử trí ổn định bằng điều trị nội khoa tại chỗ.

Chương 4: Bàn luận

Chương này đối chiếu, phân tích chuyên sâu các kết quả thu được với y văn trong nước và quốc tế:

  • Về đặc điểm lâm sàng và chức năng tai giữa: Luận án lý giải tỷ lệ tổn thương tai giữa hai bên ở bệnh nhân KHVM cao hơn hẳn so với trẻ không có dị tật là do bất thường cấu trúc cơ màn hầu đối xứng hai bên. Tình trạng ứ dịch chiếm ưu thế phản ánh hậu quả trực tiếp của tắc vòi cơ năng. Sự biến đổi của nhĩ lượng đồ (chủ yếu dạng B và C) hoàn toàn tương thích với mức độ ứ dịch và áp lực âm trong hòm tai được ghi nhận bởi các tác giả quốc tế (Paradise, Moller, Zingade). Phân tích thính lực khẳng định nghe kém dẫn truyền là tổn thương chức năng chủ yếu, nhấn mạnh sự cần thiết phải kiểm tra thính lực định kỳ bằng các kỹ thuật thích hợp theo lứa tuổi.
  • Về hiệu quả của phẫu thuật kết hợp THVM và đặt OTK: Luận án phân tích cơ chế phối hợp: phẫu thuật THVM tái lập hướng đi của cơ nâng và cơ căng màn hầu, trong khi OTK đóng vai trò như một "vòi nhĩ nhân tạo" giúp giải tỏa áp lực âm, dẫn lưu dịch nhầy ứ đọng và hồi phục niêm mạc hòm nhĩ. Sự cải thiện các chỉ số PTA và thu hẹp khoảng ABG sau 6 tháng chứng minh hiệu quả phục hồi thính lực rõ rệt. Luận án cũng bàn luận sâu về các yếu tố nguy cơ dẫn đến VTG tái diễn sau mổ như thời gian lưu ống, kết quả liền sẹo của vòm miệng và tình trạng nhiễm trùng mũi họng, đồng thời thảo luận về tỷ lệ cũng như cách kiểm soát các biến chứng thường gặp của OTK (chảy tai, tắc ống, đào thải ống sớm).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Cung cấp bộ dữ liệu toàn diện, có hệ thống tại Việt Nam về đặc điểm lâm sàng, hình thái nội soi màng nhĩ, biến đổi nhĩ lượng đồ và thính lực đồ trên một cỡ mẫu chuẩn gồm 106 bệnh nhân khe hở vòm miệng (212 tai).
  • Làm sáng tỏ mối liên quan giữa mức độ dị tật khe hở vòm miệng với mức độ rối loạn chức năng tai giữa, khẳng định vai trò của tình trạng tắc vòi cơ năng mạn tính trong cơ chế bệnh sinh của viêm tai giữa ứ dịch và xẹp nhĩ ở trẻ KHVM.

Đóng góp về mặt thực tiễn và điều trị

  • Chứng minh tính hiệu quả và an toàn của quy trình phối hợp can thiệp hai chuyên khoa: thực hiện phẫu thuật tạo hình vòm miệng đồng thời với chích rạch màng nhĩ đặt ống thông khí hòm nhĩ trong cùng một cuộc mê.
  • Đưa ra bằng chứng lâm sàng rõ ràng về sự cải thiện giải phẫu màng nhĩ, chuyển đổi dạng nhĩ lượng đồ và nâng cao sức nghe (giảm chỉ số PTA, thu hẹp khoảng cách ABG) sau can thiệp 6 tháng.
  • Xác lập cơ sở khoa học để đề xuất quy trình sàng lọc, đánh giá chức năng tai giữa thường quy bằng nội soi và đo trở kháng âm học cho tất cả bệnh nhân KHVM trước và sau phẫu thuật hàm mặt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện tập trung tại một trung tâm phẫu thuật chuyên khoa (Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cuba), thời gian theo dõi sau mổ trọng tâm ở mốc 6 tháng; cần thời gian theo dõi dài hơn (2-3 năm) để đánh giá toàn diện tỷ lệ tái phát sau khi ống thông khí tự đào thải cũng như di chứng xẹp nhĩ muộn hay xơ nhĩ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và kéo dài thời gian theo dõi dọc sau khi rút hoặc rơi ống thông khí.
    • Đánh giá sâu hơn sự phát triển ngôn ngữ, khả năng phát âm và kết quả học tập của trẻ KHVM sau khi được phục hồi thính lực bằng đặt OTK sớm.
    • Nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa các loại ống thông khí khác nhau (ống ngắn hạn, ống trung gian, ống chữ T dài hạn) trên đối tượng bệnh nhân KHVM.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều đối tượng:

  • Bác sĩ Tai Mũi Họng: Cung cấp hướng dẫn chi tiết về quy trình chẩn đoán, đánh giá nhĩ đồ - thính lực và kỹ thuật phối hợp đặt ống thông khí cho trẻ có dị tật vòm miệng.
  • Phẫu thuật viên Hàm Mặt và Tạo hình: Cung cấp góc nhìn toàn diện về các tổn thương tai giữa đi kèm, hỗ trợ phối hợp liên chuyên khoa trong lập kế hoạch phẫu thuật toàn diện cho trẻ KHVM.
  • Chuyên viên Thính học và Trị liệu Ngôn ngữ: Cung cấp cơ sở dữ liệu về sự biến đổi thính lực và tầm quan trọng của việc bảo tồn sức nghe trong giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ.
  • Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp đo thính học - trở kháng âm học trong bệnh lý tai giữa nhi khoa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao bệnh nhân khe hở vòm miệng lại có tỷ lệ mắc bệnh lý tai giữa cao (lên đến 94%)?

Do bất thường về giải phẫu bám tận của cơ nâng màn hầu và cơ căng màn hầu. Thay vì đan chéo tiếp nối ở đường giữa, các bó cơ này chạy chéo bám vào bờ sau bên của phần xương khẩu cái hở, làm suy giảm trương lực mở vòi nhĩ. Vòi nhĩ bị xẹp và tắc cơ năng, kết hợp với tình trạng trào ngược thức ăn gây viêm niêm mạc vòm mũi họng, dẫn đến áp lực âm liên tục trong hòm tai và gây viêm tai giữa ứ dịch kéo dài.

2. Hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án là gì?

  1. Đánh giá chức năng tai giữa trên bệnh nhân khe hở vòm miệng qua nội soi, thính lực và nhĩ lượng.
  2. Đánh giá sự cải thiện chức năng tai giữa sau đặt ống thông khí và phẫu thuật tạo hình khe hở vòm miệng.

3. Nghiên cứu sử dụng những công cụ, thiết bị chính nào để đánh giá chức năng tai giữa?

Nghiên cứu sử dụng hệ thống nội soi Tai Mũi Họng đánh giá hình thái màng nhĩ; máy đo nhĩ lượng Interacoustics AT235 (đầu dò 226 Hz, dải áp lực -400 đến +200 daPa) để phân tích độ thông thuận và áp lực hòm nhĩ; và máy đo thính lực Interacoustics AD226 để xác định ngưỡng nghe đơn âm đường khí (PTA), đường xương và khoảng cách khí - cốt đạo (ABG) bằng các kỹ thuật phù hợp lứa tuổi (BOA, VRA, CPA).

4. Dạng nhĩ lượng đồ nào chiếm ưu thế ở bệnh nhân KHVM trước khi được can thiệp?

Trước can thiệp, dạng nhĩ lượng đồ chiếm ưu thế tuyệt đối là dạng B (đường phẳng/không có đỉnh theo Jerger, thể hiện tình trạng ứ dịch trong hòm nhĩ) và dạng C (đỉnh nhĩ đồ lệch âm sâu, thể hiện tình trạng tắc vòi nhĩ và áp lực âm hòm tai).

5. Việc phối hợp đặt ống thông khí đồng thời với phẫu thuật tạo hình vòm miệng đem lại lợi ích gì?

Đặt OTK đóng vai trò như một vòi nhĩ nhân tạo giúp cân bằng áp lực hòm nhĩ với môi trường bên ngoài và dẫn lưu triệt để dịch ứ đọng. Sự kết hợp đồng thời trong cùng một cuộc mổ giúp cải thiện rõ rệt giải phẫu màng nhĩ, phục hồi chức năng thông khí tai giữa, nâng cao sức nghe (giảm chỉ số PTA, thu hẹp khoảng cách ABG) và phòng ngừa các biến chứng mạn tính nguy hiểm (xẹp nhĩ, viêm tai dính, cholesteatoma).


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Khiếu Hữu Thanh đã giải quyết trọn vẹn hai mục tiêu nghiên cứu thông qua việc khảo sát toàn diện đặc điểm lâm sàng, hình thái nội soi, nhĩ lượng đồ và thính lực đồ trên 106 bệnh nhân khe hở vòm miệng. Công trình khẳng định bệnh lý tai giữa (đặc biệt là viêm tai giữa ứ dịch và nghe kém dẫn truyền) là tổn thương phổ biến do rối loạn chức năng vòi nhĩ mạn tính gây ra bởi bất thường cơ màn hầu. Đồng thời, kết quả theo dõi sau phẫu thuật đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội của giải pháp phối hợp tạo hình vòm miệng và đặt ống thông khí hòm nhĩ trong việc cải thiện chức năng tai giữa và phục hồi thính lực. Luận án là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác chẩn đoán, điều trị toàn diện và xây dựng phác đồ phối hợp liên chuyên khoa Tai Mũi Họng - Hàm Mặt tại Việt Nam.