Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình thực hiện KCBMP cho trẻ em dưới 6 tuổi trên thể giới và Việt Nam 1. Thế giới Trên thế giới, tại các nước phát triển, trẻ em và phụ nữ luôn là những đối tượng được ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe và hầu hết các nước phát triển đều có chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em. Nhìn lại lịch sử, chính sách miễn phí chăm sóc sức khỏe cho trẻ em mới chỉ được đề cập tới lần đầu tiên tại Cộng hòa Ireland năm 1950 [39].
Theo chính sách này, tất cả phụ nữ được miễn phí chăm sóc sức khỏe sinh sản và trẻ em dưới 16 tuổi được miễn toàn bộ phí chăm sóc sức khỏe. Mặc dù vậy, khi mới được ban hành, chính sách này cũng vấp phải sự phản đối của Nhà thờ cũng như của cả các cán bộ y tế. Hiện nay, tại đa số các nước phát triển, chủ yếu ở châu Âu có hệ thống tài chính y tế dựa vào thuế, toàn bộ người dân, trong đó có trẻ em được hưởng chế độ khám chữa bệnh miễn phí. Tuy nhiên, mức độ miễn giảm cũng như các loại dịch vụ có thể khác nhau giữa các quốc gia.
Các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch là một trong số ít các quốc gia có chính sách miễn toàn bộ phí khám chữa bệnh, dự phòng cũng như khám định kỳ cho trẻ em dưới 6 tuổi [37], Tại các nước đang phát triển, Thái Lan là một trong số ít các quốc gia áp dụng chính sách miễn phí khám chữa bệnh cho tất cả trẻ em dưới 12 tuổi, công chức về hưu trên 60 tuổi, người nghèo và tình nguyện viên y tế [36], Tuy nhiên, tình hình chăm sóc sức khỏe trẻ em dưới 6 tuổi ở các nước đang phát triển hiện đang rất hạn chế. Một báo cáo tổng quan của Tổ chức cứu trợ trẻ em Mỹ năm 2008 [37] đánh giá về tình hình sức khỏe trẻ em ở 55 quốc gia đang phát triển đã cho thấy có tới trên 200 triệu trẻ em dưới 5 tuổi không có khả năng tiếp cận được tới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Trong sổ các nước này, Philippines, Peru, Nam Phi, và Indonesia là những nước có chính sách chăm sóc sức khỏe trẻ em tốt nhất, trong khi Lào, Yemen, Chad, Somalia và Ethiopia là những nước đứng cuối cùng trong danh sách này.CBMP cho trẻ em dưới 6 tuổi là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện tầm nhìn và trách nhiệm đối với tương lai đất nước, tương lai dân tộc. Trong những năm đầu thực thi chính sách còn gặp nhiều khó khăn như: điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và con người còn hạn chế nhưng từ khi có Nghị định 36/CP trong đó có quy định về khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, áp dụng từ 2005 thì 100% số cơ sở khám chữa bệnh công lập đã thực hiện KCB miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi, số lượng trẻ em đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế công lập ngày càng tăng, cụ thể như thành phổ Hồ Chí Minh có tỷ lệ số trẻ đến điều trị tại các bệnh viện công lập của thành phố trong 6 tháng năm 2006 so với 6 tháng năm 2005 là 126,65%, tại các bệnh viện quận/ huyện là 159,5%, trong đó tỷ lệ trẻ em điều trị nội trú đạt trung bình 126,5% các tuyến [24].
Tại một số bệnh viện chuyên khoa Nhi ờ Nghệ An, cần Thơ, Đồng Nai, Hải Phòng. số lượng trẻ đến KCB đều tăng so với khi chưa có chính sách, gây nên tình trạng quá tải cho các bệnh viện [6], Tại các bệnh viện Trung ương, đặc biệt là các bệnh viện Nhi số trẻ đển khám chữa bệnh lên tới hàng ngàn cháu mỗi ngày [6]; Viện Bỏng Lê Hữu Trác, số lượng bệnh nhân dưới 6 tuổi khám và điều trị chiếm >60%; Bệnh viện Đa khoa Xanh-Pôn chiếm trên 60% trên tổng số khám và điều trị [6]. về phương thức triển khai thực hiện KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi Theo quy định hiện nay là “thực thanh thực chi theo định mức được qui định về mức thu viện phí”. Nhưng thực tế có một số địa phương thực hiện bằng các phương thức khác nhau như Sơn La thực hiện theo phương thức mua thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi.
Thanh toán cho các bệnh viện bằng tiền chi từ “Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo” như ở Thanh Hóa [6]. 6 về danh mục thuốc điều trị Nhìn chung các cơ sở y tế đã đảm bảo đủ thuốc, vật tư y tế cho trẻ em theo đúng quy định của Bộ Y tế. Tuy nhiên để tránh tình trạng trẻ em phải dùng thuốc của người lớn, Bộ Y tế đang nghiên cứu và sản xuất các loại thuốc, dịch truyền có hàm lượng và dạng bào chế phù hợp với trẻ em [6]. Đồng thời cũng cần có quy định cụ thể hơn các bệnh được thanh toán, đặc biệt là các kỹ thuật cao như mổ tim, ghép tạng.
hoặc vấn đề cấp phát thuốc ngoại trú để quản lý được vừa đảm bảo quyền lợi thực sự cho trẻ [9]. về thủ tục hành chính trong việc khám chữa bệnh Để tránh tình trạng phiền hà khi đưa trẻ đi khám bệnh, Bộ Y tế và liên bộ đã quy định trong khi chưa được cấp thẻ KCB thì chỉ cần xuất trình giấy khai sinh, giấy chứng sinh hoặc xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi trẻ cư trú. Việc quy định tuyến điều trị nhằm tạo điều kiện cho gia đình trẻ biết đưa trẻ đi khám và điều trị, tránh dồn lên tuyến trên gây quá tải, khó khăn cho các cơ sở khám chữa bệnh cũng như tốn kém của gia đinh. Riêng đối với trường hợp cấp cứu, trẻ dưới 6 tuổi có thể được nhận ở bất cứ cơ sở y tế nào [17], Bên cạnh đó, việc phân tuyến cũng nảy sinh một số vấn đề.
Do điều kiện khám chữa bệnh ở tuyến dưới còn hạn chế nên nhiều bậc cha mẹ muốn đưa trẻ đi tuyến trên, tuy nhiên trong trường hợp này họ cần phải có giấy chuyển viện của tuyến dưới. Đây là một bất cập cần giải quyết thấu đáo [33]. Việc cấp phát thẻ KCB cho trẻ nhiều nơi còn chậm và có những nhầm lẫn về họ tên, ngày tháng năm sinh. Hiện nay nhiều trẻ dưới 6 tuổi sử dụng hai loại thẻ KCB là thẻ BHYT cho người nghèo và thẻ KCB cho trẻ dưới 6 tuổi nên việc thanh toán viện phí đôi khi còn phức tạp [33].
về chính sách cho cán bộ y tế chuyên ngành nhi Quyết định số 276/2005/QĐ-TTg ngày 01-11-2005 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ, viên chức thuộc các cơ sở y tế của Nhà nước cũng đã quy định mức phụ cấp 30% cho cán bộ y tế trực tiếp 7 làm việc tại các khoa, viện, bệnh viện chuyên khoa nhi [18], Đa sổ các bác sĩ tại các khoa nhi tuyến tỉnh là bác sĩ đa khoa, chưa được đào tạo chuyên khoa nhi. Tuyến huyện, xã nhiều nơi cũng thiếu bác sĩ và y sĩ chuyên khoa nhi [33]. về trang thiết bị y tế và cơ sở vật chất phục vụ KCB cho trẻ em dưói 6 tuổi Nhìn chung còn nhiều khó khăn do số bệnh viện cũng như số giường bệnh còn chưa đáp ứng được nhu cầu. Cả nước có 7 bệnh viện chuyên khoa nhi, 25% số bệnh viện huyện có khoa nhi.
sổ giường bệnh nhi khoa mới đạt 10,02% trong khi yêu cầu của Bộ y tế đặt ra là 20%. Tại tuyến tỉnh, trang thiết bị ở các bệnh viện chuyên khoa nhi cũng chưa được đầy đủ và hiện đại, đặc biệt là tuyến huyện thì còn quá sơ sài và lạc hậu dẫn đến tình trạng bệnh nhi vượt tuyến gây quá tải cho các bệnh viện chuyên khoa nhi [6], Đánh giá chung về sử dụng các nguồn ngân sách KCB cho trẻ dưới 6 tuổi Ngân sách chủ yếu để KCB cho đối tượng này là ngân sách Nhà nước, năm sau cao hơn năm trước tối thiểu là 20%. Tuy nhiên do hình thức thanh toán thực thanh thực chi nên việc bảo đảm nguồn tài chính để KCB cho trẻ còn nhiều tồn tại [6]: - Phân bố ngân sách phức tạp và tỏ ra không phù hợp với hoàn cảnh hiện nay do có nhiều đầu mối phân bổ từ Trạm y tế xã đến bệnh viện chuyên khoa nhi, đặc điểm chi phí ở các tuyến khác nhau, kinh phí phân bổ từ đầu các năm không sát với thực tể lượng KCB của trẻ ở từng cấp. - Dự toán ngân sách chi KCB cho trẻ em được lập, cân đối và giao cho các địa phương làm cho các cơ sở y tế không chủ động được kinh phí, các bệnh nhân từ địa phương khác đến gặp khó khăn trong thanh toán.
- Sự phân bổ ngân sách hiện nay cho các cơ sở KCB cho trẻ dưới 6 tuổi thực chất vẫn là bao cấp chung cho bệnh viện, chưa bao cấp trực tiếp, riêng biệt cho đối tượng mà Nhà nước cần bao cẩp, người sử dụng dịch vụ công. - Không huy động được hệ thống y tế tư nhân tham gia vào KCB cho trẻ dưới 6 tuổi, cũng như các nguồn đóng góp của cộng đồng để tăng thêm nguồn kinh phí cho chính sách này. Tình hình kinh tế- xã hội của huyện Gia Lâm Gia Lâm là một huyện ngoại thành, nằm ở phía Đông của thành phố Hà Nội. Phía Đông, Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, phía Nam, Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Bắc giáp huyện Đông Anh - Hà Nội, phía Tây giáp quận Long Biên - Hà Nội.
Diện tích tự nhiên là 144 km2. Năm 2004 là năm đầu tiên huyện thực hiện theo điều chỉnh địa giới hành chính mới với 20 xã (Ninh Hiệp, Yên Thường, Yên Viên, Trung Màu, Phù Đổng, Đình Xuyên, Đông Dư, cổ Bi, Đa Tốn, Dương Xá, Kim Scm, Lệ Chi, Đặng Xá, Phủ Thị, Văn Đức, Dương Quang, Kim Lan, Bát Tràng, Dương Hà, Kiêu Kỵ) và 2 thị trấn (Trâu Quỳ, Yên Viên) chia thành 3 khu: Bắc Đuống, Nam Đuống và sông Hồng. Tính đến thời điểm tháng 6/2007, dân số huyện Gia Lâm là 214. Mật độ dân số là 1791 người/km2.
Một số thông tin về y tế tại Huyện Gia Lâm 4. Hệ thống tổ chức cung cấp dịch vụ y tế tại huyện Gia Lâm Trung tâm Y tế Gia Lâm gồm 3 phòng khám đa khoa khu vực (phòng khám Trâu Quỳ, Yên Viên, Đa Tốn) và 22 trạm y tế xã, thị trấn.