Chương 1: Khái niệm căn bản và hoàn cảnh lịch sử của các quốc gia Bắc Âu 1. Các khái niệm có liên quan Bắc Âu (Nordic) hay Scandinavia Thông tin địa lý Hình 1.1 Trong tiếng Anh, khái niệm Bắc Âu (Nordic) và Scandinavia đôi khi được sử dụng như từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, nếu xét vể chi tiết, hai khái niệm này nhắc đến hai khu vực lãnh thổ địa lý khác biệt nhau nhưng có liên quan. Theo định nghĩa của Liên hợp Quốc, Bắc Âu là vùng lãnh thổ của 5 quốc gia chính gồm Đan Mạch ( Denmark), Phần Lan (Finland), Nauy (Norway), Thụy Điển (Sweden) và Ai-xơ-len (Iceland) cùng các vùng lãnh thổ có liên quan bao gồm quần đảo Faroe, đảo Green land, Svalbar và Âland.com https://fb.com/tailieudientucntt 19 Khái niệm Nordic đôi khi cũng được nhắc đến để dành cho các quốc gia Estonia.
Luthiania, và Latvia (các nước này đều thuộc hội đồng Bắc Âu, một liên minh kinh tế chính trị của các quốc gia Bắc Âu). Vì tính Bắc Âu của các nước này không thật rõ ràng (trước đây có thời gian các nước này nằm trong Liên bang Soviet cũ) mà tính chất nhà nước không giống với kiểu nhà nước phúc lợi điển hình tại Bắc Âu nên tôi xin phép không nhắc tới thêm trong bài viết này. Còn khái niệm Scandinavia, nếu xét theo mặt địa lý thì bán đảo Scandinavia chỉ bao gồm ba quốc gia là Thụy Điển, Nauy và một chút lãnh thổ ở phía bắc Phần Lan. Tuy nhiên, nếu xét theo khía cạnh ngôn ngữ thì tiếng Phần Lan, Thụy Điển và Nauy có một từ chung là ―Skandinavien‖ dùng để nhắc tới những Thông tincổ địa vùng lãnh thổ lý người Norsmen bao gồm xưa của và định nghĩa này được số đông công nhận là định nghĩa chuẩn của từ ―Scandinavia‖.
Tức là khu vực này bao gồm các thuộc địa và lãnh thổ cổ đại có liên quan đến người Norsmen gồm có Nauy, Thụy Điển, Đan Mạch, Iceland, Phần Lan (thật ra Phần Lan vẫn đang trong cuộc tranh cãi rằng mình có phải Scandinavian hay không vì lý do độc lập dân tộc), quần đảo Faroe và một nửa đảo Greenland. Nếu xét rộng về khái niệm Scandinavia thì cũng có thể kể thêm đến khu vực cư trú của người Anh cổ (Angle) nằm ở miền bắc Đức và phía nam Đan Mạch ( khu vực đã từng có thời thuộc về đế quốc Đan Mạch - Thụy Điển và Scotland. Tuy nhiên vì tính khác biệt về thể chế nên tôi cũng xin không đề cập đến những vùng lãnh thổ này thêm.com https://fb.com/tailieudientucntt 20 Vậy tựu chung lại, bài viết này xin chia sẻ quan điểm về thể chế nhà nước phúc lợi tại năm quốc gia lớn của người Scandinavia bao gồm: Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Nauy và Iceland bởi tính tương đồng về mặt thể chế của quốc gia này. Tôi cũng xin được bỏ qua phân tích về các vùng lãnh thổ nhỏ, có đặc điểm thể chế không rõ rệt hay tính tương đồng với kiểu nhà nước tại Bắc Âu không cao.
Các thuật ngữ chuyên ngành Các nhóm thuật ngữ này được dựa trên cơ sở hoặc trích dẫn từ tài liệu trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu Hệ thống phúc lợi ở thành phố Hồ Chí Minh ( TPHCM) với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội của trung tâm khoa học xã hội và nhân văn TPHCM (nay là viện nghiên cứu phát triển TPHCM) do tiến sĩ TrầnThông Hữu Quantin địanhiệm. làm chủ lý Về khía cạnh từ vựng, trong cuốn Từ điển Tiếng Việt xuất bản 2000 ( Hoàng Phê chủ biên) chưa có cụm từ ―phúc lợi xã hội‖, cũng chưa có an sinh hay an sinh xã hội mà mới chỉ có ―phúc lợi‖. Trong từ điển này, phúc lợi được định nghĩa như sau: ― Lợi ích mà mọi người được hưởng không phỉa trả tiền hoặc chỉ phải trả một phần‖. Định nghĩa này chỉ nhấn mạnh khía cạnh miễn phí hoặc giảm phí chứ chưa hề đề cập tới nội hàm của từ này, chỉ nói một cách chung chung là ―lợi ích‖.
Rất có thể, khái niệm này xuất phát từ phương thức kế hoạch hóa tập trung trước đây khi mọi người thường hiểu phúc lợi là khoản phụ cấp hoặc lợi ích có thểm ngoài lương mà người lao động nhận được từ cơ quan, xí nghiệp.com https://fb.com/tailieudientucntt 21 Trở về một chút với khái niệm phúc lợi trong quá khứ được ghi trong cuốn Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh, ta thấy một định nghĩa khá ngắn gọn cho khái niệm này: phúc lợi là ―hạnh phúc và lợi ích (Bonheur et interest)‖ ( Đào Duy Anh, 1957, tr. Từ ―phúc lợi‖ tương ứng với từ welfare trong tiếng Anh đã được nhà xã hội học Anh Gordon Marshall định nghĩa một cách khá đầy đủ như sau: welfare là ― tình trạng hoặc điều kiện làm ăn khấm khá (doing well) hoặc sinh sống đàng hoàng, hạnh phúc (being well). Marshall nhận định rằng thời kì đầu, người ta nói đến welfare khi cần có biện pháp nào đó để bảo vệ tình trạng phúc lợi cho một nhóm hay một cá nhân nào đó do vậy từ này chủ yêu được sử dụng trong lĩnh vực chính sách, vì nó gắn trực tiếp với những nhu cầu: ―Các chính sách phúc lợi là những chính sách được thiết lập nhằm đáp ứng nhữngThông tin nhu cầu của địa hay cá nhân lý của nhóm‖. Theo marshall, những nhu cầu này không chỉ bao gồm những nhu cầu thiết yếu để sinh tồn mà còn cả những nhu cầu có một ―cuộc sống tử tế và xứng đáng‖ ( a reasonable and adequate life).
Các nhu cầu này không chỉ là một mức thu nhập tối thiểu để có cái ăn, cái mặc mà còn bao gồm nhà ở đàng hoàng, giáo dục, y tế và cơ hội việc làm ( Marshall 1998, tr 701–702). Khi lướt qua các tài liệu về kinh tế phúc lợi, cũng có thể là một hướng tham khảo mà chúng ta nên quan tâm tới, chúng ta có thể thấy rằng ngành học này nghiên cứu về việc phân phối phúc lợi và sản phẩm của quá trình sản xuất sao cho đạt hiệu quả Pareto. Vì vậy, theo cách nhìn này, chúng ta cũng mơ hồ nhận ra một nghĩa khác của khái niệm phúc lợi là sự phân chia của cải xã hội sau quá trình sản xuất.com https://fb.com/tailieudientucntt 22 Thuật ngữ phúc lợi xã hội trong tiếng Việt tương ứnng với cụm từ social welfare trong tiếng Anh hay ―xã hội phúc lợi‖ trong tiếng Hán mà phiên âm là shehui phuli, tất cả chúng đều được sử dụng để chỉ chung một khai niệm. Theo giáo sư Trần Hữu Quang và nhóm nghiên cứu của ông, phúc lợi xã hội hiểu theo nghĩa rộng là hệ thống các định chế, các chính sách và các hành động nhằm để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu nhất của người dân với mục tiêu để người dân có cuộc sống đàng hoàng, tử tế và xứng đáng với phẩm giá con người.
Hệ thống này bao gồm các lĩnh vực giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm y tế, chính sách trợ giúp xã hội ( hỗ trợ tầng lớp nghèo, khó khăn…) và chính sách cứu trợ xã hội ( cứu trợ thiên tai, dịch bệnh…) Còn thuật ngữ an sinh xãThông tinứng hội thì tương địavới lý cụm từ social sercurity; trong tiếng Hoa người ta sử dụng cụm từ ―xã hội bảo chướng‖ ( phiên âm: Shehui baozhang). Trên thực tế trong các tài liệu tiếng Anh người ta sử dụng hoán chuyển vị trí của các cụm từ social sercurity và social welfare. Tuy nhiên, thông thường thì thuật ngữ ―an sinh xã hội‖ ( social sercurity) thường được hiểu hẹp hơn nghĩa của thuật ngữ ― phúc lợi xã hội‖ ( social welfare) và chỉ bao gồm bảo hiểm xã hội bảo hiểm y tế và các chính sách trợ giúp hay cứu trợ xã hội. Còn một thuật ngữ nữa phần nào cũng được sử dụng tương ứng với hai thuật ngữ ― an sinh xã hội‖ và ― phúc lợi xã hội‖ đó là thuật ngữ bảo đảm xã hội (social protection), cũng có thể dịch từ này thành bảo hộ xã hội, bảo trợ xã hội hoặc bảo vệ xã hội.
Thường người ta hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng tức là bao gồm hệ thống an sinh xã hội ( social sercurity ), hệ CuuDuongThanCong.com https://fb.com/tailieudientucntt 23 thống các chính sách trợ giúp xã hội (social assistance) và các chính sách cứu trợ xã hội ( social relief). Bảo hiểm xã hội (social insurance ) là thuật ngữ được dùng để chỉ một chương trình quốc gia mang mục tiêu cung ứng một số dịch vụ xã hội cơ bản do nhà nước trực tiếp đứng ra cung cấp hoặc bảo trợ. Nguyên tắc của hệ thống này là sự chia sẻ chi phí tài chính giữa các thành viên nhằm đối phó với các hoàn cảnh bất trắc như bệnh tật, mất việc làm, tuổi già… Đối tượng của những chương trình này là một số tầng lớp dân cư nhất định, với nguồn ngân sách thường là từ tiền thuế và tiền đóng góp của những người tham gia. Hệ thống này thường mang tính cưỡng bách ( nhà nước bắt buộc) nhưng cũng có hệ thống mang tính tự nguyện.
Có một số yếu tố sau đâyThông tạo nên sựtin khácđịa lý bảo hiểm xã hội với biệt giữa bảo hiểm tư nhân: A, bảo hiểm xã hội thường có tính bắt buộc trong khi bảo hiểm tư nhân thường mang tính tự nguyện, B, Việc cung ứng của bảo hiểm tư nhân dựa trên thỏa thuận giữa nhà bỏa hiểm với người được bảo hiểm thông qua một bản hợp đồng, trong khi đó hệ thống bảo hiểm xã hội thường dựa trên các chế độ và chính sách đối với từng tầng lớp dân cư nhất định tức là dựa trên quyền được hưởng trợ cấp của người được bảo hiểm. C, bảo hiểm tư nhân thườn mang tính công bằng (equity) giữa những người mua bảo hiểm còn bảo hiểm xã hội thì hướng tới tính thỏa đáng (social adequacy) của các khoản trợ cấp với mọi thành viên tham gia.com https://fb.com/tailieudientucntt 24 Thuật ngữ nhà nước phúc lợi được dịch từ welfare state trong tiếng Anh hay État providence trong tiếng Pháp. Thuật ngữ tương đương trong tiếng Hoa là fú lì guó jia (phiên âm Hán Việt là phúc lợi quốc gia). Khái niệm welfare state bắt đầu được sử dụng nhiều trong thập niên 1940, đặc biệt sau thế chiến thứ 2 , được dùng để mô tả những nhà nước có trách nhiệm chủ yếu trong việc cung ứng phúc lợi xã hội thông qua các hệ thống an sinh xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân về mặt nhà ở, y tế, giáo dục và thu nhấp( Marshall,1998, tr.702) Khái niệm chính sách xã hội là khái niệm thường được đề cập trong những công trinh nghiên cứu về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, khi người ta chú tâm tới vai trò của nhà nước đối với các lĩnh vực xã hội cũng như các vấn đề xã hội.