Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học (mã số: 62.01) của nghiên cứu sinh Trần Điệp Thành, do TS. Phạm Thái Việt hướng dẫn khoa học, được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016 với đề tài: "So sánh Thể chế Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp: nhà nước và đảng chính trị".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công cuộc Đổi mới từ năm 1986 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về chính trị và thể chế; Nhà nước Việt Nam từng bước được xây dựng và hoàn thiện theo định hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tuy nhiên, thể chế chính trị Việt Nam vẫn còn bộc lộ một số hạn chế: còn biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; tổ chức bộ máy nhà nước ở nhiều cơ quan từ trung ương đến địa phương chưa thực sự hợp lý; chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa rõ ràng, còn chồng chéo; quy trình hoạch định chính sách công và xây dựng pháp luật còn rườm rà, mang tính hình thức.

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã xác định nhiệm vụ sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014), lần đầu tiên quy định và cụ thể hóa nguyên tắc kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Để thi hành Hiến pháp năm 2013, Quốc hội cần sửa đổi, bổ sung khoảng 18 đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước (như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân), đồng thời triển khai Nghị quyết số 64/2013/QH13 ngày 28/11/2013 của Quốc hội và Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 03/01/2014 của Ban Bí thư.

Bên cạnh đó, việc lựa chọn so sánh thể chế chính trị Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam với Cộng hòa (CH) Pháp xuất phát từ ba căn cứ thực tiễn và lý luận:

  • Thứ nhất, mối quan hệ lịch sử gần một thế kỷ (1858–1945) tạo nên sự kết nối và ảnh hưởng tư tưởng pháp quyền dân chủ phương Tây (đặc biệt từ Charles Louis Montesquieu và Jean Jacques Rousseau), được Việt Nam tiếp thu linh hoạt trong bản Hiến pháp năm 1946. Quan hệ ngoại giao chính thức thiết lập ngày 02/4/1973 và được nâng lên tầm Đối tác chiến lược vào ngày 25/9/2013, trong đó có nội dung tăng cường hợp tác xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền và quản trị hiệu quả.
  • Thứ hai, CH Pháp là nhà đầu tư lớn thứ hai và đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam trong số các quốc gia châu Âu, giữ vai trò cửa ngõ thúc đẩy quan hệ giữa Liên minh Châu Âu (EU) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
  • Thứ ba, nghiên cứu đáp ứng định hướng của Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị về Công tác lý luận và Định hướng nghiên cứu đến năm 2030, yêu cầu đi sâu nghiên cứu bản chất chủ nghĩa tư bản hiện đại, tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của nhân loại về nhà nước pháp quyền, cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Trong kho tàng học thuật trong nước và quốc tế, chưa có công trình nào tiến hành so sánh trực tiếp, toàn diện giữa thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và thể chế chính trị CH Pháp trên cả hai phương diện cấu trúc tổ chức và chức năng hoạt động của thể chế nhà nước và đảng chính trị.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:

  • Thứ nhất: So sánh thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và CH Pháp đương đại nhằm làm rõ những đặc điểm giống và khác nhau cơ bản, những điểm hợp lý và hạn chế chủ yếu trong cấu trúc tổ chức và chức năng hoạt động của thể chế chính trị hai quốc gia, từ đó nêu ra kiến nghị cụ thể cho việc xây dựng thể chế chính trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
  • Thứ hai: So sánh để chứng minh thể chế chính trị Việt Nam cũng giống như các thể chế chính trị pháp quyền, dân chủ trên thế giới, là thể chế chính trị pháp quyền xã hội chủ nghĩa, có các thể chế nhà nước được Hiến pháp 2013 quy định thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp theo cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích các vấn đề lý luận về thể chế chính trị và quan điểm tiếp cận cấu trúc – chức năng trong phương pháp nghiên cứu chính trị so sánh.
  2. So sánh cấu trúc tổ chức của thể chế nhà nước và đảng chính trị giữa Việt Nam và Pháp.
  3. So sánh chức năng hoạt động của thể chế nhà nước và đảng chính trị giữa hai quốc gia cùng mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố này trong quá trình hoạch định chính sách công.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc tổ chức và chức năng của đảng chính trị và thể chế nhà nước, bao gồm: Quốc hội (Nghị viện), Chính phủ, Tòa án, cùng những người đứng đầu cơ quan trong thể chế nhà nước như Thủ tướng Chính phủ và Nguyên thủ quốc gia của CHXHCN Việt Nam và CH Pháp.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm là giai đoạn đương đại từ năm 2000 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2016), gắn với mốc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam năm 2001 (ghi nhận nhà nước pháp quyền XHCN) và sửa đổi Hiến pháp CH Pháp năm 2000 (rút ngắn nhiệm kỳ Tổng thống từ 7 năm xuống 5 năm). Luận án cũng mở rộng khảo sát lịch sử từ năm 1946 đối với Việt Nam và từ năm 1958 đối với CH Pháp (Nền Cộng hòa thứ Năm) để làm rõ tính kế thừa tư tưởng thể chế.
  • Phạm vi không gian: Giới hạn nghiên cứu so sánh thể chế nhà nước và đảng chính trị ở cấp trung ương, nơi các cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước thể hiện tập trung và rõ nét nhất.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và đánh giá tình hình nghiên cứu thành hai nhóm tư liệu chính:

                  TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
NGHIÊN CỨU VỀ THỂ CHẾ VN                       NGHIÊN CỨU VỀ THỂ CHẾ PHÁP

Các nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam

  • Tài liệu trong nước: Tác phẩm của Lưu Văn An (2012) phân tích lịch sử hình thành thể chế chính trị Việt Nam qua các giai đoạn 1945–1954, 1954–1975, 1975–1992 và từ 1992 đến nay. Luận án tiến sĩ của Lý Vĩnh Long (2012) nghiên cứu hệ thống chính trị Việt Nam từ 1986 đến 2011, song tác giả luận án chỉ ra điểm chưa chuẩn xác của Lý Vĩnh Long khi nhận định thể chế Việt Nam vẫn dập khuôn hoàn toàn theo mô hình Xô Viết, bởi Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 đã bỏ Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, thu gọn chức năng tư pháp về Tòa án. Công trình do Lê Minh Thông chủ biên (2001) cùng các bài viết của Đào Trí Úc, Bùi Xuân Đức đã chỉ ra những mâu thuẫn giữa thẩm quyền hiến định và quyền lực thực tế của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ.
  • Tài liệu nước ngoài: Zachary Abuza (2001), Gareth Porter (1992), Joanna Harrington (1994), James W. Morley và Masashi Nishihara (1997). Tác giả nhận xét các công trình này tiếp cận nguồn tư liệu chưa khách quan, nhận định phiến diện khi cho rằng thể chế Việt Nam dập khuôn hoàn toàn mô hình Trung Quốc hoặc xem Quốc hội chỉ là cơ quan hình thức, bỏ qua các bước chuyển biến thực chất trong xây dựng nhà nước pháp quyền và cơ chế kiểm soát quyền lực tại Hiến pháp năm 2013.

Các nghiên cứu về thể chế chính trị Cộng hòa Pháp

  • Tài liệu trong nước: Nhóm tác giả Nguyễn Đăng Dung (2001, 2004), Nguyễn Thị Hồi, Nguyễn Chu Dương, tập thể Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2003) phân tích chính thể cộng hòa lưỡng tính/hỗn hợp của Pháp, vai trò trung tâm của Tổng thống và cơ chế nhánh hành pháp hai đầu. Luận án tiến sĩ luật học của Tống Đức Thảo (2012) nghiên cứu bộ máy nhà nước Pháp và đề xuất cơ chế bảo hiến cho Việt Nam (tuy nhiên luận án của Tống Đức Thảo có nhầm lẫn tên gọi Hội đồng Hiến pháp thành Ủy ban bảo vệ Hiến pháp). Công trình của Nguyễn Xuân Tế và Trần Thị Thùy Dương (2002) khảo cứu tổ chức bộ máy nhà nước Pháp theo Hiến pháp năm 1958.
  • Tài liệu nước ngoài: Robert Elgie và Steven Griggs (2000) với tác phẩm French Politics – Debates and Controversies phân tích 4 mô hình chính phủ Pháp (chuyên quyền, phối hợp, phân chia, thuộc bộ); Gabriel A. Almond cùng các cộng sự (2003) trong Comparative Politics Today áp dụng thuyết cấu trúc – chức năng để nghiên cứu chính trị Pháp; Anne Stevens (1996) phân tích quyền lực Tổng thống; Jack Hayward chủ biên (1993) phân tích chế định Tổng thống từ De Gaulle đến Mitterrand; Robert Elgie (1999, 2003) khảo cứu mô hình bán tổng thống (semi-presidentialism) và cấu trúc hành pháp đôi (Dual Executive); Leslie Derfler (1983) nghiên cứu quan hệ Tổng thống – Nghị viện; Emiliano Grossman và Nicolas Sauger (2010) phân tích 4 giai đoạn phát triển của Nền Cộng hòa thứ Năm.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các tài liệu trong nước chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu đơn lẻ về Việt Nam hoặc khảo cứu riêng về Pháp để liên hệ, tham chiếu; các tài liệu nước ngoài chưa cập nhật những sửa đổi hiến định mới của Việt Nam năm 2013 và thiếu vắng công trình so sánh liên quốc gia giữa Việt Nam và Pháp. Luận án lựa chọn lấp đầy khoảng trống này bằng việc so sánh trực tiếp, toàn diện hai thể chế dưới lăng kính cấu trúc – chức năng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Chủ nghĩa Mác – Lênin: Luận án quán triệt quan điểm mác-xít về bản chất giai cấp của nhà nước tư bản chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ biện chứng giữa chính đảng và bộ máy nhà nước, cùng vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản trong nhà nước XHCN.
  • Lý thuyết Nhà nước pháp quyền và Phân chia quyền lực: Tiếp thu tư tưởng tam quyền phân lập của Montesquieu, khế ước xã hội của Rousseau, kết hợp với học thuyết nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nhằm làm rõ cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực.
  • Thuyết Thể chế (Institutionalism) và Thuyết Tân thể chế (Neo-institutionalism): Khảo cứu thể chế như một hệ thống quy tắc, cơ cấu tổ chức và sự tương tác giữa các thiết chế nhà nước với xã hội.
  • Tiếp cận Cấu trúc – Chức năng (Structural Functionalism): Vận dụng khung lý thuyết của Gabriel A. Almond, xem thể chế chính trị là một chỉnh thể gồm các cấu trúc xác định (Quốc hội/Nghị viện, Chính phủ, Tòa án, Đảng chính trị) thực hiện các chức năng chuyên biệt (lập pháp, hành pháp, tư pháp, hoạch định chính sách) nhằm duy trì tính ổn định của hệ thống.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành chính trị – luật – lịch sử:

  • Phương pháp so sánh chính trị: So sánh đối chiếu từng cặp thiết chế tương ứng giữa Việt Nam và Pháp về cơ cấu tổ chức và phương thức vận hành.
  • Phương pháp phân tích logic quy phạm: Phân tích hệ thống văn bản pháp lý tối cao và các đạo luật tổ chức bộ máy nhà nước.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Khảo sát quá trình hình thành tư tưởng pháp quyền, quá trình ban hành Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 tại Việt Nam và Hiến pháp năm 1958 cùng 17 đạo luật sửa đổi Hiến pháp tại Pháp; lịch sử thành lập, sáp nhập, giải thể các chính đảng Pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp quy: Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013; các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992; các luật tổ chức bộ máy nhà nước của Việt Nam; Hiến pháp CH Pháp năm 1958 và 17 bản sửa đổi (tiêu biểu là Sửa đổi năm 1962, 2000, 2008).
  • Văn kiện Đảng: Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa XI, Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư.
  • Tài liệu học thuật: Sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành chính trị học trong và ngoài nước (như West European Politics).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này thống kê, hệ thống hóa và phân tích sâu các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và CH Pháp. Tác giả chứng minh tính độc lập, không trùng lặp của đề tài, khẳng định đây là công trình đầu tiên so sánh trực diện hai thể chế ở cấp độ luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học.

Chương 2: Những vấn đề cơ bản về so sánh thể chế chính trị

Tác giả phân tích nội hàm các khái niệm: Chính trị, Thể chế, Thể chế chính trị. Khái niệm thể chế chính trị được xác định bao gồm hai bộ phận cốt lõi: thể chế nhà nước và đảng chính trị.

Chương này phân loại các mô hình thể chế chính trị:

  • Thể chế CHXHCN Việt Nam: Thuộc mô hình cộng hòa xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước là thống nhất, tập trung, thuộc về nhân dân, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các nhánh quyền lực dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Thể chế CH Pháp: Thuộc mô hình cộng hòa bán tổng thống (semi-presidentialism), đặc trưng bởi Tổng thống do dân bầu trực tiếp có thực quyền lớn, cùng tồn tại với Thủ tướng đứng đầu Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện.

Chương 2 luận chứng ưu thế của quan điểm cấu trúc – chức năng trong nghiên cứu so sánh chính trị, làm tiền đề lý luận cho các chương sau.

Chương 3: So sánh cấu trúc tổ chức của thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và CH Pháp

Chương 3 tập trung phân tích các đặc tính "tĩnh" về mặt cấu trúc tổ chức của hai thể chế:

  • Mô hình hình học của bộ máy nhà nước:
    • Việt Nam vận hành theo mô hình "tam giác cân", đỉnh là Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, các nhánh hành pháp và tư pháp do Quốc hội thành lập và chịu trách nhiệm trước Quốc hội.
    • Pháp vận hành theo mô hình "tam giác đều", ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp có vị trí cân bằng, đối trọng và kiềm chế lẫn nhau theo nguyên tắc tam quyền phân lập.
  • Thể chế nhà nước:
    • Lập pháp: Quốc hội Việt Nam là cơ cấu đơn viện; Nghị viện Pháp là cơ cấu lưỡng viện (Hạ viện/Viện Dân biểu và Thượng viện).
    • Hành pháp: Việt Nam có thiết chế Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia và Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu hoạt động theo nguyên tắc tập thể; Pháp có cơ chế hành pháp đôi (Dual Executive) gồm Tổng thống (nắm quyền đối ngoại, quốc phòng) và Thủ tướng (điều hành kinh tế - xã hội, hành chính).
    • Tư pháp: Việt Nam tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân thống nhất; Pháp phân tách thành hai nhánh độc lập gồm Tòa án tư pháp (xét xử dân sự, hình sự) và Tòa án hành chính (đứng đầu là Hội đồng Nhà nước), đồng thời có Hội đồng Hiến pháp thực hiện chức năng kiểm tra tính hợp hiến của luật.
  • Đảng chính trị:
    • Việt Nam có cấu trúc đơn đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, được hiến định tại Điều 4 Hiến pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, gắn kết hữu cơ với bộ máy nhà nước.
    • Pháp có cấu trúc đa đảng: Các đảng phái phân hóa theo trục cánh tả – cánh hữu, thường xuyên chia tách, sáp nhập và liên minh; mối quan hệ tổ chức giữa đảng và bộ máy nhà nước lỏng lẻo do xu hướng cá nhân hóa quyền lực của Tổng thống.
                  MÔ HÌNH CẤU TRÚC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
                  
        CHXHCN VIỆT NAM                         CỘNG HÒA PHÁP
       (Mô hình Tam giác cân)                 (Mô hình Tam giác đều)
       
              Quốc hội                         Tổng thống & Chính phủ
              (Đỉnh)                                (Hành pháp)
              /      \                              /          \
             /        \                            /            \
            /          \                          /              \
    (Hành pháp)       (Tư pháp)           (Lập pháp)        HĐ Hiến pháp (Tư pháp)

Chương 4: So sánh chức năng hoạt động của thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và CH Pháp

Chương 4 phân tích các đặc tính "động" trong việc thực thi quyền lực và quy trình hoạch định chính sách công:

  • Chức năng của thể chế nhà nước: Cả hai quốc gia đều có các cơ quan thực hiện ba chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp nhưng tính chất vận hành khác biệt. Quy trình lập pháp ở Pháp chịu sự chi phối mạnh mẽ của nhánh hành pháp thông qua các quy định bỏ phiếu cả gói hoặc đệ trình dự luật ưu tiên; tại Việt Nam, quy trình lập pháp do Quốc hội thảo luận, quyết nghị dựa trên định hướng của Đảng.
  • Chức năng của đảng chính trị:
    • Tại Pháp: Tổng thống do cử tri bầu trực tiếp nên có vị thế tương đối độc lập với chính đảng của mình; đảng chính trị giữ vai trò chính trong các chiến dịch tranh cử nghị viện và tổng thống nhưng không trực tiếp hoạch định chính sách thay cho Chính phủ. Thể chế bán tổng thống dẫn đến hiện tượng cùng chung sống chính trị (cohabitation) khi Tổng thống và Thủ tướng thuộc hai phe đối lập (đã diễn ra 3 lần trong lịch sử Nền Cộng hòa thứ Năm).
    • Tại Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chức năng lãnh đạo toàn diện quá trình hoạch định chính sách thông qua việc ban hành Cương lĩnh, Nghị quyết, định hướng chiến lược để Nhà nước thể chế hóa thành luật pháp. Mối quan hệ chức năng chặt chẽ đảm bảo sự ổn định chính trị nhưng đôi khi làm giảm tính chủ động, linh hoạt của các cơ quan quản lý nhà nước.
Tiêu chí so sánh Thể chế CHXHCN Việt Nam Thể chế Cộng hòa Pháp
Mô hình tổng thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Cộng hòa Bán Tổng thống
Cấu trúc quyền lực nhà nước Quyền lực thống nhất, phân công, phối hợp, kiểm soát (Tam giác cân) Phân chia quyền lực, kiềm chế đối trọng (Tam giác đều)
Cơ quan lập pháp Quốc hội (Một viện) Nghị viện (Lưỡng viện: Hạ viện và Thượng viện)
Cơ quan hành pháp Nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nước) và Chính phủ (Thủ tướng đứng đầu) Hành pháp đôi: Tổng thống (nguyên thủ có thực quyền) và Thủ tướng
Cơ quan tư pháp & Bảo hiến Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân Tòa án tư pháp, Tòa án hành chính (Hội đồng Nhà nước), Hội đồng Hiến pháp
Hệ thống đảng chính trị Đơn đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn diện) Đa đảng (Cạnh tranh lưỡng cực Tả - Hữu, liên minh cầm quyền)
Ngân sách cho đảng chính trị Nhà nước bảo đảm ngân sách hoạt động Nhà nước cấp kinh phí tranh cử và hoạt động theo luật định
Hiện tượng "Cùng chung sống" (Cohabitation) Không tồn tại Đã diễn ra 3 lần trong 20 năm

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

  1. Về nhận diện mô hình: Làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt bản chất giữa hai thể chế. Dù khác biệt về ý thức hệ và hình thức chính thể, cả hai nước đều chia sẻ nền tảng giá trị phổ quát của nhà nước pháp quyền (thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người, phân định chức năng quyền lực). Điều này mở ra khả năng tham khảo các cơ chế kỹ thuật lập pháp và kiểm soát quyền lực của Pháp để áp dụng có chọn lọc vào Việt Nam.
  2. Về đánh giá thành công và hạn chế:
    • Chỉ ra rằng mô hình bán tổng thống của Pháp chỉ mang tính ổn định tương đối; cấu trúc hành pháp đôi kết hợp đa đảng lưỡng cực hóa dễ phát sinh xung đột quyền lực trong các giai đoạn cohabitation. Ngược lại, Pháp có xu hướng cá nhân hóa quyền lực Tổng thống làm suy giảm quyền hạn Nghị viện.
    • Định vị thể chế Việt Nam đương đại là thể chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa có đầy đủ các nhánh chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điểm hạn chế của thể chế Việt Nam là quy trình hoạch định chính sách công và ban hành văn bản pháp luật còn rườm rà, mang tính hình thức, nặng về thủ tục; các cơ quan nhà nước chưa hoàn toàn độc lập trong tác nghiệp do thiếu cơ chế và thiết chế kiểm soát quyền lực chuyên trách.
  3. Về phương pháp luận: Thực chứng tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng tiếp cận cấu trúc – chức năng trong nghiên cứu chính trị so sánh giữa hai quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác biệt nhau.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất

Luận án đề xuất giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện thể chế nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong quá trình thực thi Hiến pháp năm 2013:

  • Thành lập thiết chế bảo hiến chuyên trách: Kiến nghị Việt Nam nghiên cứu mô hình Hội đồng Hiến pháp của CH Pháp để thành lập một cơ quan bảo hiến độc lập.
  • Phương thức tổ chức cơ quan bảo hiến tại Việt Nam: Vận dụng phù hợp với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, thành viên của cơ quan bảo hiến do Quốc hội phê chuẩn trên cơ sở đề cử, giới thiệu của ba chủ thể: Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ, với nhiệm kỳ hoạt động xác định là 10 năm nhằm đảm bảo tính khách quan, độc lập trong việc phán quyết tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cấp trung ương, chưa đi sâu phân tích cấu trúc tổ chức và phương thức vận hành của chính quyền địa phương cũng như sự tương tác giữa thể chế chính trị trung ương và cơ sở.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh về phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương giữa Việt Nam và Pháp; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế vận hành cụ thể của mô hình Hội đồng Hiến pháp khi áp dụng vào điều kiện thể chế chính trị đơn đảng tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, giảng viên: Cung cấp khung lý thuyết cấu trúc – chức năng ứng dụng trong chính trị học so sánh; là tài liệu tham khảo chuyên khảo về thể chế chính trị Nền Cộng hòa thứ Năm của Pháp và thể chế CHXHCN Việt Nam sau Hiến pháp năm 2013.
  • Đối với các cơ quan làm luật và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho các cơ quan Quốc hội, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp, các bộ ngành trong quá trình hoàn thiện 18 đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực và thiết lập cơ quan bảo hiến tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chọn CH Pháp để so sánh với CHXHCN Việt Nam dù hai nước có chế độ chính trị khác nhau?

Việc lựa chọn dựa trên ba lý do: (1) Mối quan hệ lịch sử lâu dài (1858–1945) và ảnh hưởng tư tưởng pháp quyền tiến bộ của Montesquieu, Rousseau đối với các bản Hiến pháp Việt Nam; quan hệ Đối tác chiến lược thiết lập năm 2013 có thỏa thuận hợp tác về quản trị và hoàn thiện nhà nước pháp quyền; (2) Pháp là đối tác kinh tế, thương mại lớn hàng đầu của Việt Nam tại châu Âu; (3) Thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về nghiên cứu chủ nghĩa tư bản hiện đại và các giá trị tiến bộ của nhân loại về nhà nước pháp quyền.

2. Sự khác biệt cơ bản về mô hình cấu trúc bộ máy nhà nước giữa Việt Nam và Pháp được mô tả như thế nào?

Luận án mô tả cấu trúc nhà nước Việt Nam theo mô hình "tam giác cân", trong đó Quốc hội ở vị trí đỉnh, nắm quyền lực tối cao, các cơ quan hành pháp và tư pháp trực thuộc và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Cấu trúc nhà nước Pháp theo mô hình "tam giác đều", ba nhánh lập pháp (Nghị viện), hành pháp (Tổng thống và Thủ tướng) và tư pháp (Tòa án và Hội đồng Hiến pháp) có vị trí ngang hàng, kiềm chế và đối trọng lẫn nhau.

3. Hiện tượng "cùng chung sống chính trị" (cohabitation) ở Pháp xảy ra do đâu và có mấy lần xuất hiện?

Hiện tượng cohabitation là tình huống Tổng thống và Thủ tướng thuộc hai phe chính trị đối lập nhau cùng điều hành nhánh hành pháp. Nguyên nhân do cấu trúc hành pháp đôi và hệ thống đa đảng lưỡng cực hóa tại Pháp, kết hợp với sự chênh lệch nhiệm kỳ giữa Tổng thống (trước đây là 7 năm) và Hạ viện (5 năm). Trong lịch sử Nền Cộng hòa thứ Năm, hiện tượng này đã diễn ra 3 lần trong vòng 20 năm.

4. Tác giả kiến nghị thành lập cơ quan bảo hiến tại Việt Nam với cơ cấu nhân sự như thế nào?

Tác giả đề xuất thành lập một thiết chế bảo hiến tương tự mô hình Hội đồng Hiến pháp của Pháp. Về nhân sự, các thành viên sẽ do Quốc hội phê chuẩn trên cơ sở danh sách giới thiệu của ba chức danh lãnh đạo gồm Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ, với nhiệm kỳ hoạt động là 10 năm.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Điệp Thành là công trình nghiên cứu chính trị so sánh hệ thống giữa thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và CH Pháp ở cấp độ trung ương. Bằng việc vận dụng tiếp cận cấu trúc – chức năng và phương pháp phân tích quy phạm, tác giả đã làm rõ những điểm tương đồng về giá trị pháp quyền cũng như sự khác biệt đặc thù về mô hình tổ chức và chức năng hoạt động của thể chế nhà nước và đảng chính trị ở hai quốc gia. Công trình khẳng định bước phát triển của thể chế Việt Nam theo Hiến pháp năm 2013, đồng thời đưa ra kiến nghị có giá trị thực tiễn về việc xây dựng cơ quan bảo hiến độc lập phục vụ công cuộc đổi mới và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.