Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN Nhà nước kiến tạo phát triển là một vấn đề đang được quan tâm, đặc biệt là sau những phát biểu của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam1. Xét từ góc độ thực tiễn, các quốc gia được cho là theo đuổi và xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển đã trở thành hình mẫu của một nền kinh tế mà ở đó vai trò của nhà nước thực sự là hết sức nổi bật. Vì vậy, trong một thời gian dài từ khi khái niệm “Nhà nước kiến tạo phát triển” được nhắc tới, các học giả đã cố công nghiên cứu và khái quát những vấn đề lý luận xung quanh nó. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu lý luận về Nhà nước kiến tạo phát triển có hai ý nghĩa quan trọng: (1) Đáp ứng nhu cầu về nhận thức trong giai đoạn Việt Nam đang cần có sự học tập những mô hình phát triển kinh tế thành công; (2) Bổ sung thêm những góc độ 1.
v n / h a n g t h a n g / c h i n h - t r i / item/31846702-nha-nuoc-kien-tao-phat-trien.html, http://thutuong.vn/Home/Thu-tuong-dat-hang-Hoc-vien-Chinh-tri-quoc- gia-Ho-Chi-Minh/20179/27046. Truy cập ngày 26/02/2019. 13 lý luận về nhà nước mà cách tiếp cận truyền thống dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin chưa đề cập nhiều. KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN Được đề cập lần đầu tiên trong cuốn sách “MITI và sự thần kỳ Nhật Bản: Chính sách tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 1925-1975”1, xuất bản năm 1982, cho đến nay, trong hành trình hơn 30 năm của khái niệm này, rất nhiều nội dung đã được làm rõ xoay quanh Nhà nước kiến tạo phát triển.
Nhiều khía cạnh nghiên cứu đã dần được lấp đầy nhằm làm sáng tỏ vấn đề này cũng như mở rộng phạm vi ứng dụng của Nhà nước kiến tạo phát triển. Hiện đã có định nghĩa được đặt ra để mô tả Nhà nước kiến tạo phát triển như: “Nhà nước kiến tạo phát triển có thể được hiểu là Nhà nước ưu tiên cho phát triển kinh tế, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh về mặt công nghệ và về mặt quản trị, nó được dẫn dắt bởi nhóm chức nghiệp ưu tú có năng lực quản lý lãnh đạo thông qua việc hoạch định chính sách công nghiệp và nhóm này được hệ thống chính trị hỗ trợ bằng việc tạo ra một khoảng tự do cần thiết để sáng tạo”2. Chalmers Johnson: MITI and the Japanese Miracle: The Growth of Industrial Policy, 1925-1975, Stanford University Press, 1982. Yin Wah Chueds: The Asian developmental state, Reexaminations and new departures, Palgrave Macmillan, 2016, tr.
14 cập khái niệm Nhà nước kiến tạo phát triển thì không thể không nói tới khía cạnh phát triển, bởi thuật ngữ tiếng Anh gốc được sử dụng là Developmental state chỉ nhắc tới yếu tố phát triển, còn việc chuyển ngữ bổ sung thêm từ kiến tạo là nhằm tránh gây nhầm lẫn với một khái niệm cũng thường được sử dụng, đó là Nước phát triển (Developed country)1. Nhìn chung, mặc dù khái niệm Nhà nước kiến tạo phát triển được đề cập tương đối muộn, và đặc biệt là gắn với thực tiễn của các nhà nước ở Đông Á, nơi chứng kiến sự phát triển thần kỳ trong những năm hậu chiến; nhưng chủ thuyết cho sự tồn tại của nó đã được hình thành sớm hơn, với chủ thuyết phát triển (developmentalism) trong kinh tế học. Myrdal đã lên án các nước kém phát triển ở Nam Á là Nhà nước mềm (soft state), ít có vai trò thúc đẩy nền kinh tế và nhấn mạnh việc cải cách thể chế để đạt được điều này2. Nhìn chung, cả trong lý thuyết của chủ nghĩa phát triển lẫn trong thực tiễn của một số nước Đông Á, vai trò can thiệp của nhà nước đối với nền kinh tế là điểm cần thiết cho sự phát triển.
Vũ Công Giao: Nhà nước kiến tạo phát triển: mô hình và triển vọng, http://tcnn.aspx/vi/News/125/0/1010067/0/38326/Nha_ nuoc_kien_tao_phat_trien_mo_hinh_va_trien_vong. Truy cập ngày 26/02/2018. Gélédan: Lịch sử tư tưởng kinh tế, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, t.
15 Như vậy, vấn đề cốt lõi trong việc hình thành khái niệm Nhà nước kiến tạo phát triển - đó là sự can thiệp của nhà nước. Để thấy rõ hơn về khái niệm này, theo nhóm tác giả phải đi sâu vào nguồn gốc của nó, nghĩa là nghiên cứu xem sự can thiệp của nhà nước có thể ảnh hưởng tới những khái niệm như thế nào. Nhà nước ở đây được xem xét với tư cách một chủ thể có khả năng can thiệp và tác động sâu sắc tới nền kinh tế và từ đó mà các khái niệm như “Nhà nước tối thiểu”, “Nhà nước phúc lợi”, “Nhà nước kiến tạo phát triển” và “Nhà nước chỉ huy” được đặt ra nhằm mô tả các xu hướng và mức độ can thiệp của nhà nước đối với kinh tế. Nói chung, mỗi cách tiếp cận hay mỗi hệ quy chiếu về Nhà nước sẽ tạo ra những khái niệm liên quan đến nhau (Xem Bảng 1).
Khái niệm nhà nước từ các hệ quy chiếu Hệ quy chiếu Các khái niệm liên quan Kiểu nhà nước Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Hình thức chính Nhà nước cộng hòa (và các biến dạng của nó thể của nhà nước như Nhà nước cộng hòa quý tộc, Nhà nước cộng hòa dân chủ), Nhà nước quân chủ (và các biến dạng của nó như Nhà nước quân chủ chuyên chế, Nhà nước quân chủ hạn chế) Hình thức cấu Nhà nước liên bang, Nhà nước đơn nhất trúc của nhà nước 16 Tôn giáo và Nhà Nhà nước thế tục, Nhà nước thần quyền, Nhà nước nước tôn giáo - dân sự, Nhà nước tôn giáo - dân tộc1 Mức độ can thiệp Nhà nước tối thiểu, Nhà nước phúc lợi, Nhà của nhà nước nước kiến tạo phát triển, Nhà nước chỉ huy Việc nghiên cứu một khái niệm về Nhà nước, do đó sẽ phải gắn với việc nghiên cứu các khái niệm khác cùng nằm trong một hệ quy chiếu với nó. Ở đây, nhóm tác giả trình bày một cách khái quát về các khái niệm còn lại trong hệ quy chiếu “Mức độ can thiệp của nhà nước” trước khi rút ra những kết luận cuối cùng về Nhà nước kiến tạo phát triển. - Về Nhà nước tối thiểu: Không chỉ được quan tâm bởi các nhà kinh tế học mà còn được nhiều nhà tư tưởng đề cập2, quan niệm về 1. Đỗ Quang Hưng: Về xây dựng Nhà nước pháp quyền về tôn giáo, Tạp chí Mặt trận, ngày 16/8/2018.
Có thể kể tới nhà tư tưởng Robert Nozick tác giả cuốn sách Anarchy, State and Utopia, hay nữ nhà văn Ayn Rand trong các phát biểu của bà. Xem thêm: Jonathan Wolff: Robert Nozick: Property, Justice and the Minimal State, John Wiley & Sons, 2013. Nguyên văn: “a minimal state, limited to the narrow functions of protection against force, theft, fraud, enforcement of contracts, and so on. Stringham, Anarchy and the Law: The Political Ecomomy of Choice, Transaction Publishers, 2011, tr.
Nguyên văn: “The objectivists, headed by Ayn Rand, may be viewed as a variant of minarchism. Not only do they advocate a minimal state but, also like the minarchists, oppose taxation as a form of involuntary servitude.” 17 Nhà nước tối thiểu hướng tới việc Nhà nước phải giới hạn cả về phạm vi lẫn cường độ những hoạt động của mình và nhường lại cho sự chủ động của cá nhân, công dân và các tổ chức xã hội. Có ý kiến cho rằng, Nhà nước tối thiểu, “hay còn được biết đến như một “nhà nước canh đêm” (nightwatchman state), một Nhà nước cảnh sát, là một nhà nước chỉ thực hiện chức năng bảo vệ, duy trì hòa bình, trật tự, bảo đảm mạng sống và sự tự do của cá nhân”1. Điểm mấu chốt về lý thuyết Nhà nước tối thiểu chính là ở tính đúng đắn của nhà nước tối thiểu.
Đầu tiên, lý thuyết Nhà nước tối thiểu chống lại chủ nghĩa vô chính phủ (Anachism) và khẳng định tính cần thiết và hợp lẽ phải của nhà nước. Sự tồn tại của nhà nước là bắt buộc, bởi theo John Locke sẽ không bao giờ có được sự yên ổn vô tổ chức bởi con người là khác biệt về khả năng, quan điểm và đầy mâu thuẫn nên cần có một tổ chức bảo đảm cho quyền lợi chung2. Tiếp theo đó, đứng trên nền tảng lý luận về bản chất của con người là tự do, lý thuyết Nhà nước tối thiểu được 1. Vinod, Meena Deshpande: Contemporary political theory, PHI Learning Pvt.
Nguyên văn: “It is also known as a “nightwatchman state”, a police state. The state performs only the protective functions. Maintenance of peace and order, protecting the lives and liberties of the individuals are considered the main functions of the state”. John Locke: Khảo luận thứ hai về chính quyền, Nxb.
Tri thức, Hà Nội, 2015, tr. 18 bảo vệ với lập luận rằng, tất cả mọi sự mở rộng cả về quy mô quyền lực lẫn phạm vi ảnh hưởng của nhà nước sẽ có xu hướng xâm phạm tới quyền tự do của cá nhân. Bên cạnh đó, xã hội và đặc biệt là thị trường có khả năng tự điều tiết về mặt lợi ích và do đó tự hướng tới thịnh vượng và sự cân bằng. Lý luận trên được củng cố bởi lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith1 và “Trật tự tự phát” của Hayek2 và chống lại việc nhà nước can thiệp sâu vào đời sống xã hội, đặc biệt là kinh tế.
Tiếp cận dưới góc độ tính hiệu quả, có thể thấy, một nhà nước hiệu quả phải đạt được sự “tối đa về lợi nhuận và tối thiểu về chi phí”. Nói về một nhà nước công chính và bền vững, Bastiat cho nó là: “một chính phủ cực kỳ đơn giản, dễ được chấp nhận, không tốn kém, nhỏ gọn”3. Bởi theo ông, ở một nhà nước ít sự can thiệp như vậy, mọi người sẽ có quyền tự do làm mọi điều mình muốn, họ không phải cảm ơn nhà nước vì thành công của mình và cũng sẽ không thể phàn nàn nhà nước khi họ thất bại. Trong tác phẩm Bàn về của cải của các quốc gia, Adam Smith đã gọi sự tự điều chỉnh của thị trường nơi mọi cá thể đều hướng tới sự tối đa hóa lợi nhuận là “Bàn tay vô hình”.
Theo quan niệm của Hayek, thị trường tồn tại một dạng trật tự khách quan đó - là sự tổng hợp và tự điều chỉnh của tất cả cá thể tham gia vào thị trường. Claude Federic Bastiat: Luật pháp, Phạm Nguyên Trường dịch, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2015, tr. 19 - Nhà nước chỉ huy: Ngược lại với lý thuyết Nhà nước tối thiểu là những dòng tư tưởng đòi hỏi Nhà nước phải mở rộng sự can thiệp của mình, thậm chí không dừng lại ở nền kinh tế.
Một trong những trào lưu đưa tư tưởng này lên đến cực điểm đó chính là chủ nghĩa xã hội (socialism) và trên thực tế khái niệm Nhà nước chỉ huy cũng thường gắn chặt với chủ nghĩa xã hội.